Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 43/2024/HSST

Ngày: 15/8/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Hồng Lễ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Nguyễn Tiến Tùng.

2, Ông Phạm Văn Ngọ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Thị Hoài Nụ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 15/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/HSST, ngày 05/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/QĐXXST- HS, ngày 12/7/2024, đối với bị cáo:

Triệu Long Q, sinh ngày 24/6/1997, tại huyện C, Bắc Kạn;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn K và bà Hoàng Thị L; có vợ là Phùng Thị Đ, sinh năm 1995 và 02 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2023); tiền án, tiền sự:: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không – Có mặt tại phiên toà.

* Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Dương Văn H – Phó Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện C, tỉnh Bắc Kạn – Vắng mặt tại phiên toà (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Triệu Văn K, sinh năm 1967;

Địa chỉ : Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 06 giờ 00 ngày 06/10/2023, Trạm kiểm lâm Sáu Hai – Hạt kiểm lâm huyện C nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc phát phá rừng trái pháp luật tại thôn Bản Lù, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Hạt kiểm lâm huyện C tiến hành kiểm tra hiện trường, phát hiện tại khu rừng thuộc khoảnh 5, 8, 9, 10 Tiểu khu C thuộc khu vực thôn Bản Lù, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn 04 (bốn) đám rừng bị phát phá.

Ngày 17/10/2023, Hạt kiểm lâm huyện C phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và các thành phần liên quan tổ chức khám nghiệm hiện trường tại khu rừng thuộc khoảnh 5 và khoảnh 9, Tiểu khu C thuộc khu vực thôn Bản Lù, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, xác định xác định: Khu rừng bị phát phá tại lô G, khoảnh 5, Tiểu khu C và lô 20, khoảnh 9, Tiểu khu C (theo Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã T kèm theo Quyết định 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh B) thuộc thôn Bản Lù, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, thuộc loại rừng sản xuất, trạng thái TXP (Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi). Theo Bản đồ đất lâm nghiệp, địa chính xã T xác định, diện tích khu rừng bị phát phá thuộc Thửa số 140, Tờ bản đồ số 3, đứng tên quyền quản lý, sử dụng là của ông Triệu Văn K, sinh năm 1967, trú tại thôn Bản Lù, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Tổng diện tích bị phát phá là 5.432m² (Năm nghìn, bốn trăm ba hai mét vuông). Lâm sản bị thiệt hại: 5.562 (Năm nghìn, năm trăm sáu hai) cây Vầu có đường kính gốc từ 03cm đến 05cm, chiều dài từ 04m đến 07m bị chặt phá; 10 cây gỗ thông thường, tự nhiên từ nhóm VI đến nhóm VIII bị cưa, chặt đổ, có tổng khối lượng là 2,056m³ (Hai phẩy không năm sáu mét khối). Qua điều tra xác định được người phát phá là Triệu Long Q.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 03/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Giá trị thiệt hại phải bồi thường khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại về rừng đối với việc phát phá rừng trái phép tại Lô G, K và lô 20, khoảnh 9, Tiểu khu C (theo Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã T được phê duyệt tại Quyết định 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh B) thuộc thôn Bản Lù, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn vào thời điểm phát hiện ngày 06/10/2023 là không có cơ sở xác định giá trị bồi thường; Giá trị 10 cây gỗ bị cưa, chặt đổ thuộc loại gỗ thông thường, tự nhiên nhóm VI, VII, VIII với tổng khối lượng là 2,056m³ (Hai phẩy, không năm sáu mét khối) để tại hiện trường tại thời điểm ngày 06/10/2023 là 616.800₫ (Sáu trăm mươi sáu nghìn, tám trăm đồng); Giá trị của 5.562 cây V có đường kính gốc từ 03cm đến 05cm, chiều dài từ 04m đến 07m để tại hiện trường xảy ra vụ việc tại thời điểm ngày 06/10/2023 là 1.112.400₫ (Một triệu, một trăm mười hai nghìn, bốn trăm đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Triệu Long Q khai nhận: Khoảng tháng 9 năm 2023, để có đất trồng cây mỡ và lúa nương nhằm kiếm thêm thu nhập cho gia đình, Triệu Long Q đã một mình dùng dao và cưa xăng (cưa lốc) của Q đi lên khu rừng thuộc Lô G, K, Tiểu khu C và lô 20, khoảnh 9, Tiểu khu C để phát, phá một đám rừng. Quá trình phát phá, Q sử dụng cưa xăng để cắt những cây gỗ to, dao để phát cây bé và cây vầu. Đến khoảng tháng 10 năm 2023, hành vi phát phá rừng của Q bị Cơ quan kiểm lâm phát hiện, mời làm việc và tham gia khám nghiệm hiện hiện trường. Qua đó, Q biết tổng diện tích Q phát, phá là 5.432m² (Năm nghìn. bốn trăm ba hai mét vuông). Lâm sản bị thiệt hại là: 10 cây gỗ tự nhiên từ nhóm VI đến nhóm VIII có tổng khối lượng là 2,056m³ (Hai phẩ.y không năm sáu mét khối); 5.562 cây Vầu có đường kính gốc từ 03cm đến 05cm, chiều dài từ 04m đến 07m bị Q chặt, phá để tại hiện trường. Ngoài ra, việc Q phát, phá khu rừng trên không có ai biết, giúp sức, bàn bạc cùng thực hiện và Q cũng không xin phép các cơ quan chức năng.

Với các hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS, ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Triệu Long Q về tội "Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243/BLHS.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • ...;
  • Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2);

...

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới vẫn giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Long Q phạm tội "Hủy hoại rừng”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65/BLHS, xử phạt bị cáo Triệu Long Q từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS.

  • - Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 chiếc cưa lốc và 01 con dao.
  • - Ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 1.000.000₫ (Một triệu đồng) nhằm khắc phục hậu quả.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Quá trình tranh luận: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng là xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng và các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào Khoảng tháng 9 năm 2023, để có đất trồng cây mỡ và lúa nương nhằm kiếm thêm thu nhập cho gia đình, Triệu Long Q đã một mình dùng dao và cưa xăng (cưa lốc) của Q đi lên khu rừng thuộc Lô G, K, tiểu khu C và Lô 20, Khoảnh 9, tiểu khu C (theo Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã T được phê duyệt tại Quyết định 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh B) để phát, phá một đám rừng với tổng diện tích bị phát phá là 5.432m² (Năm nghìn bốn trăn ba hai mét vuông). Lâm sản bị thiệt hại là: 10 cây gỗ tự nhiên từ nhóm VI đến nhóm VIII có tổng khối lượng là 2,056m³ (Hai phẩy không năm sáu mét khối); 5.562 cây Vầu có đường kính gốc từ 03cm đến 05cm, chiều dài từ 04m đến 07m bị chặt hạ. Tổng giá trị thiệt hại là 1.729.200₫ (Một triệu, bảy trăm hai chín nghìn, hai trăm đồng). Theo bản đồ lâm nghiệp, địa chính xã T, khu rừng bị phát phá thuộc Thửa số 140, tờ bản đồ số 03, đứng tên quyền quản lý, sử dụng là ông Triệu Văn K thuộc loại rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Khi thực hiện hành vi phát phá, không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Triệu Long Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tổng hợp các chứng cứ lại, đánh giá diễn biến khách quan của vụ án thấy việc truy tố, xét xử bị cáo Triệu Long Q về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo Triệu Long Q có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại” và “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51/BLHS. Mặt khác bị cáo có ông nội là ông Triệu Sinh P được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy khi lượng hình được xem xét giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51/BLHS.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đồng thời mục đích phát phá rừng của bị cáo nhằm trồng các loại cây để phát triển kinh tế gia đình. Vì vậy đối với bị cáo trong vụ án này không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương thì vẫn có tính giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản riêng và nguồn thu nhập ổn định nào, khi áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền thì không có tính khả thi, vì vậy không áp dụng đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Do Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự không có cơ sở xác định giá trị bồi thường, nên HĐXX không xem xét.

Đối với 10 thân cây gỗ tròn bị cưa, chặt đổ thuộc loại gỗ thông thường, tự nhiên nhóm VI - VIII với tổng khối lượng 2,056m³ có trị giá là 616.800₫ (Sáu trăm, mươi sáu nghìn tám trăm đồng) và 5.562 cây vầu có trị giá là 1.112.400₫ (Một triệu, một trăm mười hai nghìn bốn trăm đồng). Cơ quan Điều tra đã trả cho Nguyên đơn dân sự là UBND huyện C, nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

[6] Về vật chứng: - Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 (một) chiếc cưa lốc (cưa xăng) cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) con dao quắm, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định chiếc cưa và con dao trên của bị cáo là công cụ sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy cần tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước đối với chiếc cưa, còn con dao không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

  • - Đối với 10 thân cây gỗ tròn bị cưa, chặt đổ thuộc loại gỗ thông thường, tự nhiên nhóm VI - VIII với tổng khối lượng 2,056m³ và 5.562 cây vầu đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
  • - Đối với số tiền 1.000.000₫ (Một triệu đồng) mà bị cáo nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C ngày 24/6/2024 nhằm để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Tuy nhiên trong đơn xin xét xử vắng mặt đại diện Nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nhưng tại phiên toà bị cáo đề nghị được tự nguyện nộp 1.000.000₫ cho Nhà nước thông qua Nguyên đơn đân sự nhằm khắc phục hậu quả cho hành vi phạm tội gây ra. Xét thấy việc tự nguyện bồi thường thiệt hại của bị cáo không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, do vậy HĐXX sẽ ghi nhận trong bản án.

[6] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Đối với ông Triệu Văn K là người được cơ quan chức năng giao khu đất trên để khoanh nuôi và bảo vệ, nhưng ông K không cho và không biết việc bị cáo Q phát phá huỷ hoại, nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Long Q phạm tội: “Huỷ hoại rừng”
    • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65/BLHS.
    • + Xử phạt bị cáo Triệu Long Q 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  2. Về trách nhiệm dân sự: - Áp dụng Điều 48/BLHS và các Điều 584, 585, 586, 589/BLDS.
    • + Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại của bị cáo Triệu Long Q cho UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn số tiền 1.000.000₫ (Một triệu đồng) để khắc phục hậu quả.
  3. Về vật chứng: - Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS.
    • + Tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc cưa xăng cầm tay (cưa lốc) cũ, đã qua sử dụng, vỏ máy màu cam, tay cầm bằng nhựa màu đen, thân máy có dòng chữ BKD Special 5900, có lam xích rời khỏi thân máy, lam xích có chiều dài 50cm, bản rộng trung bình 06cm, han gỉ.
    • + Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao quắm, phần chuôi dao và lưỡi dao bằng kim loại, đã qua sử dụng, chuôi dao dài 10cm, bản rộng trung bình 05cm.
    • (Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn ngày 09/7/2024).
    • + Tạm giữ của bị cáo số tiền 1.000.000₫ (Một triệu đồng) mà bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn theo biên lai số 0001331, ngày 24/6/2024 để đảm bảo thi hành án.
  4. Về án phí: - Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
    • + Bị cáo Triệu Long Q được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
    • “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
  5. Về quyền kháng cáo: - Áp dụng Điều 331, 333/BLTTHS
    • + Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKS tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - CQTHAHS Công an huyện;
  • - CQCSĐT Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Sở tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã T, h.Chợ Mới;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Hồ sơ, lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vi Hồng Lễ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN về hình sự sơ thẩm (tội hủy hoại rừng)

  • Số bản án: 43/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Hủy hoại rừng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Long Quý - Huỷ hoại rừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger