|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HSST Ngày: 25 – 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Tịnh và ông Phạm Quý Dương.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Huyền Trang – Thư ký viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Huệ – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 01/Tb-TA về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa, ngày 12/11/2025; đối với bị cáo:
Nguyễn Đức H; sinh năm 1976; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh, nơi thường trú, nơi ở: Thôn T, xã N, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đức L, sinh năm 1947; Con bà: Trần Thị L1, sinh năm 1952; Vợ: Đào Thị H1, sinh năm 1979 (đã ly hôn); Con: có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2005; Anh chị em ruột: có 03 anh em, bị cáo là thứ 3; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2025, chuyển tạm giam từ ngày 03/8/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên khoảng 7 giờ 10 phút ngày 31/7/2025, Nguyễn Đức H sinh năm 1976 ở thôn T, xã N, tỉnh Hưng Yên chuẩn bị 01 xi lanh kim tiêm, 01 lọ Novocain 3% và 01 ống cao su mềm màu tím rồi đi bộ đến khu vực xã L, tỉnh Hưng Yên để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi H đi đến thôn C, xã L thì gặp 01 người đàn ông lạ mặt đang đi bộ trên đường Q có biểu hiện giống người nghiện ma tuý nên H lại gần người này và hỏi mua ma tuý, người này đồng ý. H đưa 200.000 đồng người này nhận tiền và đưa cho H 01 ống nhựa mềm màu trắng trong, bên trong chứa chất dạng cục và bột màu trắng đục, H nhận biết ống nhựa chứa ma tuý, loại “ heroine” nên H cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an xã L kiểm tra, H tự giao nộp 01 ống nhựa mềm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột. Công an xã L đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của H 01 ống nhựa mềm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột niêm phong ký hiệu M1, 01 ống xi lanh; 01 lọ Novocain 3% đều chưa qua sử dụng; 01 ống cao su mềm màu tím.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức H nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Tại bản Kết luận giám định số 677/KL- KTHS(MT) ngày 03/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi thu của Nguyễn Đức H, có khối lượng là 0,139 gam, là ma tuý, loại Heroine. H2 lại 0,129 gam Heroine.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên trong chứa 0,129 gam heroine: 01 bơm kim tiêm; 01 lọ Novocain 3% chưa qua sử dụng và 01 ống cao su mềm màu tím hiện được quản lý tại kho vật chứng Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3 – Hưng Yên.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho H, do không xác định được tên, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh, xử lý.
Tại kết qu ả x ét nghiệm chất ma túy của Trung tâm y tế Kim Động ngày 31/7/2025 đối với Nguyễn Đức H kết luận: Hải dương tính với M. Quá trình điều tra H khai đã sử dụng ma tuý vào ngày 30/7/2025 nhưng không nhớ rõ thời gian, địa điểm sử dụng. Công an xã L đã tiến hành thu giữ mẫu máu của Nguyễn Đức H để trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 5995/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của V - Bộ C kết luận: Không tìm thấy chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý trong mẫu máu của Nguyễn Đức H. Xác minh tại Ủy ban nhân dân và Công an xã N xác định: H không phải là đối tượng đang trong thời gian cai nghiện ma tuý hoặc điều trị ma tuý bằng thuốc thay thế, không thuộc diện bị quản lý sau cai nghiện ma tuý. Vì vậy, không đủ căn cứ để xem xét xử lý Nguyễn Đức H về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKSKV3, ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hưng Yên đã truy tố H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hưng Yên giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo H và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS; Đề nghị xử phạt bị cáo H từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H. Tịch thu cho tiêu hủy đối với 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên trong chứa 0,129 gam heroine; 01 bơm kim tiêm; 01 lọ Novocain 3% chưa qua sử dụng và 01 ống cao su mềm màu tím; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo H nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hưng Yên, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải. Khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo ở mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo H đã thừa nhận do bản thân là đối tượng sử dụng chất ma túy nên khoảng 07 giờ 10 phút ngày 31/7/2025 đã cầm theo 200.000₫ đi tìm mua ma tuý để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang tại thôn C, xã L, tỉnh Hưng Yên, bị thu giữ và niêm phong 01 ống nhựa mềm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột theo quy định để gửi đi giám định. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản đóng, mở niêm phong; Lời khai của những người chứng kiến; Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H, phù hợp với vật chứng thu giữ được và tất cả các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 7 giờ 45 phút ngày 31/7/2025, tại khu vực thôn C, xã L, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Đức H đã có hành vi cất giấu trái phép 0,139 gam ma tuý, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hưng Yên đã truy tố H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải; bố bị cáo là ông Nguyễn Đức L là thương binh loại B, đượng tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và là một trong những nguyên nhân phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an. Bản thân bị cáo nhận thức rất rõ tác hại của ma tuý, biết được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã sẵn sàng vi phạm pháp luật, thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Do vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và cũng là đáp ứng nhu cầu phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên Hội đồng xét xử thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hưng Yên về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và việc bị cáo Tàng trữ trái phép chất ma túy cũng để phục vụ cơn nghiện của mình nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 249 của BLHS để phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 0,129 gam heroine là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 bơm kim tiêm; 01 lọ Novocain 3% chưa qua sử dụng và 01 ống cao su mềm màu tím không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về án phí: Cần buộc bị cáo H phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000đ theo khoản 2 Điều 136 của BLTTHS quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy đối với 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên trong chứa 0,129 gam heroine; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 lọ Novocain 3% chưa qua sử dụng và 01 ống cao su mềm màu tím.
(Tình trạng vật chứng như trong quyết định chuyển vật chứng số: 09 /QĐ-VKSKV3 ngày 30/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hưng Yên).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tuyền |
Bản án số 43/2025/HSST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 43/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Hải
