Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HSST

Ngày 19 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Hạnh
  2. Bà Dương Thị Diễm

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2025/TL - HSST ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025, đối với:

- Bị cáo Nguyễn Tiến Q, sinh năm: 1996. Nơi cư trú và nơi ở: thôn T, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Văn hóa: 12/12. Họ tên bố: Nguyễn Tiến Q1, sinh năm: 1967. Họ tên mẹ: Dương Thị D, sinh năm: 1971. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út. Tiền án, tiền sự: Không. Vợ con: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 25/12/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Nguyễn Tuyết T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số A L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tiến Q và chị Nguyễn Tuyết T (sinh năm: 1991; HKTT: Số A L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) là nhân viên phục vụ quán T2 có địa chỉ tại số F K, phường K, quận B, thành phố Hà Nội.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/01/2017, Nguyễn Tiến Q đang làm việc tại quán T2 số F K, phường K, quận B, thành phố Hà Nội, do có việc phải đi, chị T đưa chìa khóa xe máy nhãn hiệu Piagio Liberty BKS : 29K1-11692 của mình cho Quảng giữ hộ. Sau khi được chị T đưa chìa khóa, Q nảy sinh ý định trộm cắp xe máy của chị T. Quảng sử dụng chìa khóa chị T gửi, mở khóa xe chị T đi đến cửa hàng sửa khóa tại khu vực K - Cầu G gặp anh Nguyễn Văn T1 (SN: 1979; HKTT : thôn M, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội) - là thợ sửa khóa để thuê đánh thêm khóa xe của chị T. Sau khi anh T1 đánh thêm một chìa khóa cho Q, Q trả công cho anh T1 số tiền 10 USD rồi điều khiển xe máy về cất xe tại cửa hàng, trả chìa khóa xe cho chị T, còn Q giữ lại chìa khóa vừa đánh thêm.

Khoảng 22 giờ ngày 19/01/2017, Q quan sát thấy xe máy của chị T đang để trước cửa quán, lợi dụng lúc quán đang đông khách, không có người trông giữ. Q đã dùng chìa khóa đã đánh thêm trước đó để mở khóa xe máy BKS: 29K1-11692 của chị T, điều khiển xe đến bãi gửi xe KDC số 4 phường N, quận B, thành phố Hà Nội gửi xe cất giấu và lấy vé sau đó tiếp tục quay về quán làm việc. Hết giờ làm việc, chị T ra lấy xe thì phát hiện bị mất nên đã trình báo cơ quan công an Ngọc K.

Sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan công an tổ chức xác minh và xác định xe máy BKS : 29K1-11692 đang gửi tại bãi gửi xe K1 số 4 phường N nên đã tổ chức phục kích. Đến 16 giờ 30 ngày 20/01/2017, Q đến bãi gửi xe để lấy xe thì bị lực lượng Công an phường N phát hiện, thu giữ vật chứng đưa về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Thu giữ của Nguyễn Tiến Q: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Piagio Liberty BKS: 29K1-11692, số khung: 024156, số máy: 4023603; 01 (một) chìa khóa xe máy nhãn hiệu Vespa (do Q thuê đánh lại); số tiền 25.000 đồng.

Thu giữ của anh Nguyễn Văn Q2 (bảo vệ trông xe tại bãi gửi xe KDC số D phường N, B, Hà Nội): 01 (một) vé gửi xe máy BSK: 29K1-11692.

Tại kết luận số 08/KLĐG ngày 24/01/2017 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự UBND quận B kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Liberty BKS : 29K1-11692 tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá 26.100.000đ (hai mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng)

Quá trình điều tra xác định xe máy BKS : 29K1-11692 có người đứng tên trong đăng ký là anh Đồng Quang Đ (SN: 1982; HKTT: số E N, phường N, quận L, thành phố Hà Nội). Anh Đ mua và đăng ký chiếc xe trên ngày 23/11/2011. Đến đầu năm 2023, anh Đ không còn nhu cầu sử dụng nên đã bán chiếc xe trên tại chợ xe máy cũ Chùa H. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe

máy trên cho bị hại, chị Nguyễn Tuyết T đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu bồi thường về dân sự.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tiến Q được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 16/3/2017, Cơ quan CSĐT đã kết luận điều tra đề nghị truy tố Nguyễn Tiến Q về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS (Nay là điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015). Sau khi chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát, trong giai đoạn truy tố xác định Nguyễn Tiến Q vắng mặt tại nơi cư trú. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình trả điều tra bổ sung, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định Tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự; Tạm đình chỉ điều tra bị can và ra Quyết định truy nã số 05/CABĐ-ĐTTH ngày 31/5/2017 đối với Nguyễn Tiến Q. Ngày 24/12/2024, Nguyễn Tiến Q đến Công an quận B đầu thú.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Nguyễn Tiến Q về tội Trộm cắp tài sản theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 22 giờ ngày 19/01/2017, tại số F K, phường K, quận B, thành phố Hà Nội, Nguyễn Tiến Q có hành vi lấy trộm 01 xe máy BKS: 29K1-11692 của chị Nguyễn Tuyết T. Trị giá tài sản: 26.100.000 (hai mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng). Ngày 20/01/2017, Nguyễn Tiến Q bị phát hiện và bắt giữ. Ngày 31/5/2017, Q bỏ trốn và có Quyết định truy nã. Ngày 24/12/2024, Nguyễn Tiến Q đầu thú. Tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại cho người bị hại. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù.

Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) chìa khóa xe máy nhãn hiệu Vespa và 01 (một) vé ghi khu dân cư số 4 theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 98/CABĐ (ĐTTH) ngày 28/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo 25.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/02/2024 tại Kho bạc Nhà nước B.
  • Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Tuyết T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.
  • Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, đã trình bầy nội dung sự việc và đã có lời khai tại cơ quan điều tra được thể hiện trong hồ sơ, nên việc vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Tiến Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận định giá tài sản của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B cùng các tài liệu có trong hồ sơ: Khoảng 22 giờ ngày 19/01/2017, tại số F K, phường K, quận B, thành phố Hà Nội, Nguyễn Tiến Q có hành vi lấy trộm 01 xe máy BKS: 29K1-11692 của chị Nguyễn Tuyết T. Trị giá tài sản: 26.100.000 (hai mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng). Tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại cho người bị hại. Hành vi trên đây của Nguyễn Tiến Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Trong quá trình chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát, do thời điểm đó bị cáo còn ít tuổi (21 tuổi) chưa có nhận thức đầy đủ về pháp luật nên bị cáo đã vắng mặt tại nơi cư trú. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định truy nã số 05/CABĐ-ĐTTH ngày 31/5/2017 đối với Nguyễn Tiến Q. Sau đó, đến ngày

24/1/2024, khi bị cáo biết được bản thân đang bị truy nã, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Hội đồng xét xử xét thấy thái độ của bị cáo Nguyễn Tiến Q tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác, hành vi phạm tội của bị cáo đã xảy ra từ năm 2017, tính đến thời điểm hiện nay hành vi của bị cáo không còn tính nguy hiểm cho xã hội đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do bị cáo Q có nhiều tình tiết giảm nhẹ, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng như sư giám sát giáo dục của gia đình bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo.

Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) chìa khóa xe máy nhãn hiệu Vespa và 01 (một) vé ghi khu dân cư số 4 theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 98/CABĐ (ĐTTH) ngày 28/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
  • - Trả lại cho bị cáo 25.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/02/2024 tại Kho bạc Nhà nước quận B.
  • Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Tuyết T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, Điều 65; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Q 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 20 (Hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo: Nguyễn Tiến Q về Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong thời hạn thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án Hình sự.

* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) chìa khóa xe máy nhãn hiệu Vespa và 01 (một) vé ghi khu dân cư số 4 theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 98/CABĐ (ĐTTH) ngày 28/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
  • - Trả lại cho bị cáo 25.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/02/2024 tại Kho bạc Nhà nước B.

* Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo:

Áp dụng khoản 1,4 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 19 tháng 3 năm 2025. Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ ./.

Nơi nhận:

  • -TAND TP thành phố Hà Nội;
  • -VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - UBND xã T, huyện P, thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HSST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 43/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger