TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43 /2025/HSST
Ngày: 18/11/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Hằng
- - Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hương
Bà Nguyễn Thị Mai Linh - - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thẩm tra viên chính Tòa án khu vực 12 – Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/HSST ngày 24/10/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025//HSST-QĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Đức T; Giới tính : Nam ; Tên gọi khác : Không ; Sinh ngày: 15/8/1976; Nơi cư trú: khối V, phường Đ, thành phố V Nghệ An này là (khối V, phường T, tỉnh Nghệ An). Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Cao Đức H (đã chết) Con bà: Nguyễn Thị H1; Sinh năm: 1936; Trú tại: N, N, Nghệ An nay là (xóm N, xã T, tỉnh Nghệ An). Vợ: Đậu Thị T1; Sinh năm: 1979; Bị cáo có 02 con, sinh năm 2004 và sinh năm 2011. Cùng trú tại: khối V, phường Đ, thành phố V Nghệ An này là (khối V, phường T, tỉnh Nghệ An). Gia đình bị cáo có 06 chị em. Bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Tiền án, Tiền sự: Không
Bị cáo Cao Đức T bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2025 đến ngày 25/6/2025. Hiện bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người bị hại: Ông Trần Tiến Đ, sinh năm 1988, trú tại tổ B, phường T (cũ) phường H, tỉnh Phú Thọ – Tổ trưởng ca trực trong tổ Bảo vệ của Bệnh viện Đ1. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/5/2025, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ1 (nay là Bệnh viện Đ1), Cao Đức T, sinh năm: 1976, trú tại: khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An là công nhân của Công ty cổ phần Đ2 đang thi công gói thầu Đầu tư nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ1. T phát hiện thấy chiếc mô tô gắn BKS: 88G1-219.60 do khách gửi tại bệnh viện, thuộc sự quản lý của Ban bảo vệ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ1 (nay là Bệnh viện Đ1) không có người trông giữ, T nảy sinh ý định trộm cắp, lợi dụng sơ hở T lấy chiếc chìa khóa treo ở khung xe cho vào ổ khóa điện, dùng chân đạp cần khởi động cho xe nổ máy và thực hiện hành vi lén lút điều khiển xe ra khởi cổng bảo vệ của Bệnh viện qua đường dành cho người đi bộ.
Khi T điều khiển chiếc xe qua bốt bảo vệ ở cổng chính của Bệnh viện, thì bảo vệ của Bệnh viện đã phát hiện truy hô yêu cầu T dừng xe nhưng T vẫn tiếp tục điều khiển xe đi ra khỏi Bệnh viện đi về phía cầu H. Khi T điều khiển xe đi cách cổng Bệnh viện khoảng 250m thì bị Tổ bảo vệ đuổi kịp bắt đưa đến Công an phường Đ (cũ) lập biên bản bắt quả tang.
Bản kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 03/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố H kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE cũ, số khung: RLHHC08002Y259283, số máy: HC08E0259359, màu đỏ, biển kiểm soát: 88G1 - 219.60, đã qua sử dụng có giá trị 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại bản kết luận 2270/ KL-KTHS ngày 30/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: "Số khung, số máy của chiếc xe mô tô gửi giám định không bị tẩy xóa, sửa chữa, số nguyên thủy là: Số khung: RLHHC08002Y259283; Số máy: HC08E-0259359 ".
Tại bản kết luận 1640/ KL-KTHS ngày 01/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: "Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh trong hai tệp video gửi giám định".
-Về tang vật của vụ án: 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát: 88G1 - 219.60; Màu sơn: đỏ. số khung: RLHHC08002Y259283; số máy: HC08E0259359 thu giữ được xác định là chiếc xe được gửi tại nhà để xe của Bệnh viện từ khoảng tháng 4 năm 2025 đến ngày 28/5/2025 thì bị T trộm cắp. Quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu. Do đó, chiếc xe được Cơ quan điều tra lưu giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P để chờ xử lý.
Về Dân sự: Tổ bảo vệ của bệnh viện chịu trách nhiệm quản lý phương tiện nên được xác định là bị hại trong vụ án. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra Đại diện tổ bảo vệ là ông Trần Tiến Đ, sinh năm 1988 trú tại tổ B, phường T (cũ) phường H, tỉnh Phú Thọ không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì và đề nghị Cơ quan điều tra lưu giữ khi khách gửi xe hay chủ sở hữu đến nhận lại xe thì sẽ phối hợp để xử lý theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 07/CT – VKS ngày 24/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ truy tố bị cáo Cao Đức T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự: Đề nghị tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị tuyên phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường và đề nghị Cơ quan điều tra lưu giữ tang vật là chiếc xe mô tô khi khách gửi xe hay chủ sở hữu đến nhận lại xe thì sẽ phối hợp để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của bị cáo: Đồng ý về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị. Không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo hưởng phạt mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/5/2025, tại Bệnh viện Đ1, Cao Đức T lợi dụng sơ hở, không có người trông giữ, chìa khóa xe treo ở khung xe, T đã lén lút khởi động và điều khiển chiếc mô tô gắn BKS: 88G1-219.60 ra khởi sự quản lý của Ban bảo vệ Bệnh viện theo lối dành riêng cho người đi bộ. Khi xe qua bốt bảo vệ ở cổng chính của Bệnh viện, thì bảo vệ của Bệnh viện T2 bị phát hiện bị truy hô yêu cầu dừng xe nhưng T vẫn tiếp tục điều khiển xe đi ra khỏi Bệnh viện thì bị Tổ bảo vệ đuổi kịp bắt giữ đưa đến Công an phường lập biên bản bắt quả tang. Chiếc xe mô tô là tài sản trộm cắp có giá trị 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự, Cáo trang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội,tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, do vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội, do vậy cần có hình phạt phù hợp với tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố là ông Cao Đức H được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ. Là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng có thể cho bị cáo hưởng mức hình phạt tù có điều kiện cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã được thu giữ, không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không đề cập giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng của vụ án: Vật chứng trong vụ án chiếc xe máy HONDA WAVE cũ, số khung: RLHHC08002Y259283, số máy: HC08E0259359, màu đỏ, biển kiểm soát: 88G1 - 219.60, đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra xác định chiếc xe là của chị Lưu Thị Huyền . Tuy nhiên, chị H2 khẳng định chị H2 không phải là chủ sở hữu của chiếc xe và không cho ai mượn giấy tờ cá nhân để đi đăng kí xe hay mua bán cầm cố, thế chấp. Vì vậy chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp hay người đã mang xe đến Bệnh viện để gửi. Cơ quan điều tra đã lưu giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P để chờ xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Cao Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Cao Đức T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/11/2025.
Giao bị cáo Cao Đức T cho Ủy ban nhân dân K1, phường T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc giám sát, giáo dục người chấp hành án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt với bản án trước theo quy định tại Điều 55,56 Bộ luật hình sự
- Về án phí: Căn cứ điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Hằng |
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Xuân Giao Nguyễn Thị L | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy H3 |
Bản án số 43/2025/HSST ngày 18/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 43/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Đức Thủy
