Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HSST

Ngày: 14/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Lan Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Giao, bà Nguyễn Thị Mai Linh

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: ông Hoàng Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) Thành phố (TP) Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Thế M, sinh ngày 24/6/1990; tên gọi khác: không; nơi cư trú: xóm B, xã M, TP H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Minh A và 01 con sinh năm 2020; Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền sự, tiền án: Không. Nhân thân:

  • Ngày 06/8/2008, bị TAND huyện Kỳ Sơn (Nay là TAND Thành phố Hòa Bình) xử phạt cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản theo Bản án số 04/2008/HSST.
  • Ngày 05/9/2018, bị Công an huyện K (Nay là Công an Thành phố H) xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong vụ án này, bị cáo bị giam giữ từ ngày 02/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; được trích xuất có mặt tại phiên toà.

2. Bị cáo Đinh Huy Q, sinh ngày 05/05/2000; tên gọi khác: không; nơi cư trú: xóm Đ, xã M, TP H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn M1 và bà Phạm Thị L; vợ, con: chưa có; Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 02/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; được trích xuất có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959, trú tại tổ G, phường K, TP H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Tất T2, sinh năm 1982. Là con của ông T1.

Địa chỉ: Tổ A, Đ, TP H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt

Chị Nguyễn Thị Minh P, sinh năm 1995

Địa chỉ: Xóm B, M, TP H, tỉnh Hòa Bình. Là em của bị cáo M. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970, trú tại xóm D, xã M, TP H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
  • Ông Bùi Đức T3, sinh năm 1974, trú tại xóm D, xã M, TP H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Phi H1, sinh năm 1989, trú tại tổ G, phường K, TP H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
  • Anh Đinh Thành Q1, sinh năm 1976, trú tại tổ H, phường T, TP H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ, ngày 15/3/2023, ông Nguyễn Văn T1 và anh Đinh Thành Q1 đến quán K, địa chỉ xóm D, xã M, TP H với mục đích hát Karaoke. Khi đến, ông Nguyễn Văn T1 và anh Đinh Thành Q1 vào sân bên trong quán gặp bà Nguyễn Thị Đ (chủ quán), ông Bùi Đức T3, anh Nguyễn Thế M đang ngồi tại bàn nước; anh Đinh Huy Q và chị Trần Bảo N, sinh năm 2003 (là con gái chị Đ) đang ở sân sau của quán K.

Ông Nguyễn Văn T1 hỏi bà Nguyễn Thị Đ về việc lấy phòng hát karaoke, bà Đ không đồng ý với lý do quán đang dừng hoạt động và bảo ông T1: say rồi đi về đi; ông Nguyễn Văn T1 và anh Đinh Thành Q1 không đi về; ngồi lại uống nước với mọi người được một lúc thì anh Đinh Thành Q1 đi vào phòng nghỉ trọ trong quán. Ông Nguyễn Văn T1 ngồi uống nước với ông Bùi Đức T3 và anh Nguyễn Thế M; chị Nguyễn Thị Đào Đ1 vào phòng nằm nghỉ; trong lúc ngồi nói chuyện với T3 và M, do đã uống rượu nên ông Nguyễn Văn T1 nói “mẹ con Đ sợ tao không có tiền trả à mà sao không cho hát, tao đốt cả quán đi bây giờ”. Sau đó ông Nguyễn Văn T1 đi ra lối hành lang giữa phòng hát số 1 và phòng nghỉ, Đinh Huy Q và Nguyễn Thế M đi theo nói với ông T1 “ông về đi thôi trời mưa rồi”, ông T1 nói lại “tao đéo về đấy mày làm gì tao, mày là thằng nào”; do bức xúc với lời nói của ông T1, Q dùng tay phải đánh liên tiếp vào vùng mặt làm ông T1 ngã đập đầu xuống nền gạch, Q dùng chân phải đá vào đùi ông T1, M dùng chân trái đá vào vùng sườn bên phải ông T1. Sau đó M và Q mỗi người một bên xốc nách lôi ông

Thế ra sân trước quán, ông T1 chửi “... chúng mày là thằng nào mà đánh tao”; Q và M vẫn tiếp tục dùng tay đánh liên tiếp vào mặt làm ông T1 ngã xuống nền sân trước quán; thấy ông T1 bị đau chảy máu M bảo Q thôi không đánh nữa; Q đi vào nhà còn M đi ra quán tạp hóa mua thuốc lá bỏ mặc ông T1 tại hiện trường. Chị Nguyễn Thị Đ, anh Bùi Đức T3 và anh Đinh Thành Q1 nghe thấy tiếng ông T1 gọi “Q1 ơi chúng nó đánh tao chảy máu mồm rồi” đi từ trong nhà ra, khi ra đến nơi thấy ông T1 bị chảy máu nên anh Đinh Thành Q1 đến đỡ ông T1 dậy, anh T3 lấy điện thoại gọi cho anh Nguyễn Phi H1 (là con rể của ông T1) đến đón ông T1 đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu.

Ngày 02/9/2024, Nguyễn Thế M và Đinh Huy Q đã đến Cơ quan Công an T để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Ông T1 được gia đình đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Tỉnh H từ ngày 15/3/2023, đến 16/3/2023 chuyển Bệnh viện B khám kiểm tra tuyến trên rồi lại chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh H tiếp tục điều trị đến ngày 24/3/2023 được ra viện (Bút lục số 169, 170, 176, 177).

Bản kết luận giám định số: 85/KLTTCT-TTPY ngày 26/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh H thể hiện:

Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, khám giám định; dấu hiệu chính qua giám định:

  • Tụ máu nhu mô não thùy trán trái, gãy xương cánh mũi bên phải, gãy cung sau xương sườn VIII, IX, X bên phải, vết trợt da trán trái, vết trợt da gò má phải, vết trợt da sống mũi, vết trợt da ngón 1 bàn chân phải, các vết biến đổi sắc tố da vùng mặt, cẳng tay, gối, mông. Kết luận:" Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn T1 tại thời điểm giám định là: 38% (Ba mươi tám phần trăm). Đặc điểm vật gây thương tích: Vật tày". Theo quyết định trưng cầu giám định số 160 ngày 17/3/2023 của Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H.

Bản kết luận giám định số 2173/KL-KTHS ngày 04/5/2023 của V Bộ C kết luận: Các dấu vết nghi máu thu tại hiện trường có ký hiệu M1, M2, M3 là máu người, không xác định được kiểu gen do chất lượng dấu vết kém. Lưu kiểu gen (ADN) của người bị hại Nguyễn Văn T1 tại V Bộ C. Theo quyết định trưng cầu giám định số 170 ngày 23/3/2023 của Cơ quan CSĐT Công an T.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu và xử lý vật chứng: Không

Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố các bị cáo Nguyễn Thế M và Đinh Huy Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm c Khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự:

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm

từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này (Trong đó có Điểm i Khoản 1 điều này là: “Có tính chất côn đồ”).

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Văn T1 có yêu cầu các bị cáo Nguyễn Thế M và Đinh Huy Q bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông Thế là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Tuy nhiên, trước khi khai mạc phiên tòa, gia đình bị hại và bị cáo Nguyễn Thế M thống nhất với nhau về số tiền bồi thường thiệt hại; theo đó, ông T1 nhất trí tự nguyện nhận bồi thường: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Ông T1 và gia đình đã nhận đủ; số tiền này do chị Nguyễn Thị Minh P (em gái bị cáo M) tự nguyện bồi thường theo mong muốn của bị cáo M.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng. Đồng thời luận tội đánh giá việc các bị cáo dùng tay chân đánh liên tiếp vào mặt, người, bụng, sườn ông T1 trong khi ông T1 đang trong tình trạng say rượu, không có khả năng kháng cự – như vậy hành vi của các bị cáo được coi là: “có tính chất côn đồ” thuộc trường hợp quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 134 – BLHS, cùng với tổn hại sức khỏe của ông Thế L1 38% - Nên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Áp dụng: Điểm c Khoản 3 Điều 134 – BLHS tuyên bố bị cáo M và bị cáo Q phạm tội Cố ý gây thương tích; áp dụng thêm Điều 17, Điều 38, Điều 58 – BLHS; xem xét nhân thân của từng bị cáo, tính chất vụ án, các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án để áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo M: có nhân thân xấu, nhưng đề nghị HĐXX xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với bị cáo M là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông T1, theo quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 – BLHS; ngoài ra, bị cáo M còn có ông nội là Nguyễn Văn N1 (đã chết) được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Huy chương chiến thắng hạng nhất..., bị hại xin giảm nhẹ TNHS - xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 51 – BLHS;

Đối với bị cáo Q, thực hiện tội phạm tích cực, sau khi phạm tội bỏ đi khỏi địa phương, dẫn đến cơ quan CSĐT phải truy tìm, khó khăn trong quá trình giải quyết; tuy nhiên trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Q là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 – BLHS. Đồng thời sau đó cũng “đầu thú”, trước khi phạm tội nhân thân chưa có tiền án, tiền sự - nên cũng xem xét coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS khác theo Khoản 2 Điều 51 – BLHS.

Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, Viện kiểm sát đề nghị HĐXX xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Thế M từ 05 năm đến 05 năm 6 (sáu) tháng tù
  • Bị cáo Đinh Huy Q từ 05 năm đến 05 năm 6 (sáu) tháng tù

Về trách nhiệm dân sự: việc các bên thỏa thuận bồi thường như trên là sự tự nguyện nên đề nghị HĐXX ghi nhận.

Các vấn đề khác, đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.

Sau khi đối đáp tranh luận, nghe đại diện Viện kiểm sát phân tích, giải thích, bị cáo M nhất trí, không ý kiến gì thêm.

Hai bị cáo trình bày lời nói sau cùng: xin lỗi ông T1 và rất ân hận về hành vi phạm tội của mình; đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo với mức hình phạt thấp nhất để cải tạo, sớm trở về địa phương, gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, sau khi được HĐXX giải thích không ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan CSĐT, Điều tra viên Công an thành phố H; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự (TTHS).

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo Nguyễn Thế M và Đinh Huy Q tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người bị hại (tại bút lục số 02, 207->221) người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản hiện trường (BL 73, 74, 101, 102) biên bản thực nghiệm điều tra (BL số 119, 122 ->134), hồ sơ Bệnh án, Kết luận giám định (đặc điểm vật gây thương tích: vật tày)...phù hợp với bản khai, biên bản tiếp nhận đầu thú của bị cáo Q (BL số 29) và bị cáo M (BL số 47, 48); biên bản nhận dạng (BL số 93->97), biên bản đối chất giữa bị cáo M và người bị hại ông T1 (BL số 99, 100); Lời khai của bị cáo Q (tại BL số 314->316), lời khai bị cáo M (BL số 355) - đồng thời phù hợp với nội dung bản Cáo trạng cùng nội dung, diễn biến tranh tụng công khai tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 15/3/2023 tại quán K, địa chỉ: Xóm D, xã M, thành phố H; xuất phát từ việc giao tiếp, ứng xử; khi thấy ông T1 trong tình trạng say rượu, nói năng lèm bèm - mặc dù không có mâu thuẫn, thù hằn gì, không có sự đe dọa tấn công nào từ ông T1 và sự việc có thể giải quyết bằng cách khác nhưng hai bị cáo Nguyễn Thế M và Đinh Huy Q đã ngay lập tức có hành vi dùng chân tay đấm, đá, tát liên tiếp vào vùng đầu, mặt, bụng, chân tay ông Nguyễn Văn T1, làm cho ông T1 bị ngã ra nền sân, chảy máu mồm; dẫn đến ông T1 bị: tụ máu nhu mô não thùy trán trái, gãy xương cánh mũi bên phải, gãy

cung sau xương sườn VIII, IX, X bên phải, vết trợt da trán trái, vết trợt da gò má phải, vết trợt da sống mũi, vết trợt da ngón 1 bàn chân phải, các vết biến đổi sắc tố da vùng mặt, cẳng tay, gối, mông. Kết luận: ... tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn T1 tại thời điểm giám định là: 38% (Ba mươi tám phần trăm). HĐXX thấy mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của các bị cáo chứng minh được trong vụ án với hậu quả xảy ra, có căn cứ kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hòa Bình truy tố hai bị cáo M và Q về tội “Cố ý gây thương tích” – theo Điểm c, Khoản 3 điều 134 – BLHS (Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

Điểm i Khoản 1 Điều này tức là tình tiết: “có tính chất côn đồ”)

Như vậy là có căn cứ pháp luật.

Trong vụ án này, hai bị cáo có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, đồng phạm, lỗi cố ý cùng tiếp nhận ý chí thực hiện tội phạm nhưng không có bàn bạc, câu kết chặt chẽ, phân công vai trò cụ thể, không ai khởi xướng.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Bị cáo M có nhân thân xấu, nhưng trong vụ án này, sau cùng đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã mong muốn, tích cực vận động để gia đình đứng ra bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho ông T1;

Bị cáo Q nhân thân không có tiền án, tiền sự nhưng trong vụ án này là người đánh ông T1 trước, tích cực thực hiện tội phạm, dùng tay đánh liên tiếp vào vùng mặt đầu và dùng chân đá vào người ông T1; chưa bồi thường, khắc phục hậu quả, sau khi phạm tội bỏ đi khỏi địa phương, gây khó khăn cho công tác điều tra, giải quyết.

Nên đề nghị của Viện kiểm sát về phần hình phạt của hai bị cáo phải chịu TNHS như nhau HĐXX thấy là phù hợp.

Về áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS theo Điều 52 – BLHS: các bị cáo không có tỉnh tiết tăng nặng TNHS theo quy định Điều 52 – BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: quá trình điều tra, sau cùng các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cũng cần áp dụng cho cả hai bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 – BLHS; đồng thời đều được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS khác là “Đầu thú” theo quy định Khoản 2 Điều 51 – BLHS.

Bị cáo M còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS: đã tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả theo Điểm b Khoản 1 Điều 51 – BLHS; gia đình có công

với Cách mạng, có ông nội là Nguyễn Văn N1 (đã chết) được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Huy chương chiến thắng hạng nhất..., bị hại xin giảm nhẹ TNHS. Bị cáo Q sau đó cũng “đầu thú”, trước khi phạm tội nhân thân chưa có tiền án tiền sự - cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS khác nữa theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 – BLHS.

Về trách nhiệm dân sự: hành vi phạm tội của các bị cáo phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại; theo đó hai bị cáo Nguyễn Thế M và Đinh Huy Q phải liên đới nghĩa vụ bồi thường cho ông T1 về các thiệt hại thực tế là phù hợp với các quy định Điều 48 – BLHS; Điều 584, 585, 587, 590 của Bộ luật dân sự (2015). Tuy nhiên, Trước khi khai mạc phiên tòa, gia đình bị hại và gia đình bị cáo Nguyễn Thế M đã thỏa thuận về tổng số tiền bồi thường thiệt hại cho ông T1; theo đó, ông T1 nhất trí tự nguyện nhận bồi thường toàn bộ thiệt hại là: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Do điều kiện bị cáo M đang bị tạm giam nên chị Nguyễn Thị Minh P là em gái của bị cáo M tự nguyện đứng ra bồi thường toàn bộ số tiền này cho ông T1 theo nguyện vọng bị cáo M; phía bị hại đã nhận đủ. Sau này chị Nguyễn Thị Minh P sẽ giải quyết với bị cáo Q sau khi cần thiết. Bị cáo Q nhất trí.

Tại phiên tòa, ông T1 và gia đình ông T1 không có ý kiến gì thêm nữa, nên Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận và sự tự nguyện này của hai bên.

Các đối tượng khác trong vụ án: bà Nguyễn Thị Đ, anh Bùi Đức T3, quá trình điều tra chưa đủ cơ sở kết luận hành vi kích động, xúi giục người khác phạm tội để giải quyết trong vụ án này, có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định.

Về án phí: bị cáo M và bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 của Bộ luật TTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: được tuyên theo quy định Điều 331, 333 của Bộ luật TTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c Khoản 3 Điều 134; Điều 17, 38, 48, 58; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 – BLHS (Đối với bị cáo Nguyễn Thế M);

Căn cứ Điểm c Khoản 3 Điều 134; Điều 17, 38, 48, 58; Điểm s Khoản 1 Điều 51 – BLHS; Khoản 2 Điều 51 - BLHS (Đối với bị cáo Đinh Huy Q);

Khoản 2 Điều 136, 326, 327, 331, 333 - Bộ luật TTHS;

Điều 584, 585, 587, 590 của Bộ luật Dân sự.

Điểm a, Khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q2;

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế M và Đinh Huy Q phạm tội: Cố ý gây thương tích.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế M 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2024.

Xử phạt bị cáo Đinh Huy Q 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Hai bị cáo Nguyễn Thế M và Đinh Huy Q chịu nghĩa vụ liên đới bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông T1 số tiền là: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) theo mức thỏa thuận. Ghi nhận thỏa thuận giải quyết bồi thường thiệt hại giữa bị cáo M, gia đình bị cáo M và ông T1, gia đình ông T1; theo đó: chị Nguyễn Thị Minh P là em gái của bị cáo M tự nguyện đứng ra bồi thường toàn bộ số tiền 15.000.000 đồng cho ông T1 theo nguyện vọng bị cáo M. Phía bị hại đã nhận đủ.

Sau này chị Nguyễn Thị Minh P1 sẽ giải quyết với bị cáo Q sau khi cần thiết.

4. Về án phí: các bị cáo Nguyễn Thế M và Đinh Huy Q, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để xét xử theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo tương tự về nội dung trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • Bị cáo, bị hại;
  • VKSND TP. Hòa Bình;
  • TAND tỉnh Hòa Bình;
  • VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • Công an tỉnh Hòa Bình;
  • Thi hành án hình sự;
  • Chi cục Thi hành án dân sự;
  • Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Lan Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HSST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 43/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger