|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HSST Ngày: 02/4/2025 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Hồ Thị Xuân Thiều
Lương Thị Thu An
- Thư ký phiên tòa: Lê Thanh Duy - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa:
Ông Lê Quốc Tuấn, Ông Bồ Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2025/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. L (C), sinh năm 1994, tại Bình Phước.
Hộ khẩu thường trú: Tổ C, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện nay: Tổ C, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý V, sinh năm 1961 và bà Lê Thị L, sinh năm 1964; Vợ: Phạm Thị Kim N sinh năm 1998; con: Lý Ngọc Như Ý SN 2001 ; Tiền án – Tiền sự: Không có; Về nhân thân: Ngày 04/11/2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ra quyết định số 2064 đưa H2 vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 02 năm về hành vi Cố ý gây thương tích.
Ngày 05/12/2024 bị khởi tố. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh từ ngày 28/01/2025 đến nay.
2. Lê T, sinh năm 1987, tại Quảng Trị.
Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Số B, Tổ A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê T1, sinh năm 1946 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1946; Vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1988; con: có 02 người con, sinh năm 2015 và 2021; Tiền án – Tiền sự: Không có; Về nhân thân: không.
Ngày 19/02/2025 bị khởi tố. Bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/02/2025 cho đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa của bị cáo Lê T: Ông Nguyễn Sỹ T3, sinh năm 1987; Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ liên hệ: Số G, đường số A, khu nhà ở P, phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T4, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt).
Người làm chứng:
- + Ông Lâm Minh T5, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt);
- + Ông Bùi Huy D, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt);
- + Ông Cao Hoàng D1, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt);
- + Ông Lê Văn H1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 10/11/2024, trong quá trình làm phụ hồ tại xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, một người đàn ông tên T6 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở huyện L, tỉnh Bình Phước đến hỏi Lý H2 về việc có người đang tìm nguồn pháo hoa nổ để mua. Do nhà gần khu vực biên giới, H2 đồng ý tìm kiếm pháo để bán. Người này cung cấp cho H2 số điện thoại 0909.521.xxx của Lê T và cho biết T cần mua pháo. H2 lưu số của T nhưng không liên hệ ngay.
Khoảng 12 giờ ngày 24/11/2024, Cao Hoàng D1, Lê Văn H1, Bùi Huy D và Lý H2 tổ chức ăn uống tại nhà của D1 thì H1 và D rủ H2 đi đến trại gà tại tỉnh Bến Tre để tham quan. H2 đồng ý và hẹn đến 02 giờ sáng ngày 01/12/2024 sẽ thuê xe ô tô đi Bến Tre. Du sau đó liên hệ thuê xe ô tô biển kiểm soát 47A-256.68 của ông Lâm Minh T5 để làm phương tiện đi lại. Do biết tuyến đường di chuyển sẽ đi qua địa phận thành phố T, tỉnh Bình Dương nên khoảng 17 giờ 30 ngày 30/11/2024, H2 gọi điện cho T hỏi về việc mua pháo hoa nổ. T cho biết sẽ mua 10 bệ pháo loại 49 ống. H2 báo giá 600.000 đồng/bệ, T đồng ý mua và hẹn nhận hàng tại Bệnh viện B, địa chỉ: khu vực Cầu Ô, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, khi giao pháo sẽ thanh toán tiền.
H2 đến khu vực ngã ba C, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước để tìm mua pháo. Tại đây, H2 gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Qua trao đổi, H2 biết người này có bán pháo và hỏi mua. Người này cho biết giá 01 bệ pháo loại 49 ống là 400.000 đồng. Người này còn lại 12 bệ pháo (11 bệ loại 49 ống và 1 bệ loại 9 ống), tổng số tiền là 4.500.000 đồng. H2 đồng ý mua và thanh toán toàn bộ số tiền. Sau khi nhận pháo, H2 đem về nhà cất giấu. Để tránh bị phát hiện, H2 mua một thùng xốp, bỏ toàn bộ số pháo vào trong rồi dán kín bên ngoài. Khoảng 02 giờ ngày 01/12/2024, H2 đem thùng xốp chứa pháo đến nhà D1 để chờ xe đón. Khi D1, D và H1 thấy H2 đem theo thùng xốp, mọi người hỏi thì H2 nói đó là thịt gà mang theo để giao cho khách ở T, Bình Dương nên mọi người không kiểm tra.
H2 cất thùng xốp chứa pháo vào cốp xe. Khoảng 03 giờ 30 ngày 01/12/2024, khi xe biển số 47A-256.68 di chuyển trên Quốc lộ A, thuộc khu phố H, phường M, thị xã C, xe bị Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh B phối hợp Công an thị xã C, Công an phường M tiến hành tuần tra kiểm soát lưu động trên tuyến QL13, dừng phương tiện để kiểm tra. Tiến hành kiểm tra phát hiện thùng xốp trong cốp xe ô tô đang cất giấu 01 (một) bệ pháo hình hộp chữ nhật, có kích thước 12cm x 12cm x 20cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số "KS8-0915L", bên trong 9 ống giấy hình trụ, đường kính 4cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh; 11 (mười một) bệ pháo hình hộp chữ nhật, mỗi bệ có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số "KS4-4911X", bên trong chứa 49 ống giấy hình trụ, đường kính 2,4cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh. Tất cả có nguồn gốc, xuất xứ từ nước ngoài, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ. (Bút lục 119-128)
Kết luận giám định số 1333/KL-KTHS ngày 03/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B xác định: 01 (một) bệ pháo hình hộp chữ nhật, có kích thước 12cm x 12cm x 20cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số "KS8-0915L", bên trong 9 ống giấy hình trụ, đường kính 4cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh; 11 (mười một) bệ pháo hình hộp chữ nhật, mỗi bệ có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số "KS4-4911X", bên trong chứa 49 ống giấy hình trụ, đường kính 2,4cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh là pháo nổ. Tổng khối lượng là 21,55 kg. (Bút lục 71)
Cáo trạng số: 50/CT-VKSCT ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành: Truy tố Lý H2 và Lê T về tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng; Căn cứ tính chất mức độ phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 17, 35, 50, 58, điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Lý H2 hình phạt tiền từ 120.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng; Xử phạt bị cáo Lê T từ 120.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng về tội Buôn bán hàng cấm.
- Về vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - 01 (một) bệ pháo hình hộp chữ nhật, có kích thước 12cm x 12cm x 20cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số "KS8-0915L", bên trong 9 ống giấy hình trụ, đường kính 4cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh; 11 (mười một) bệ pháo hình hộp chữ nhật, mỗi bệ có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số "KS4-4911X", bên trong chứa 49 ống giấy hình trụ, đường kính 2,4cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh là pháo nổ. Tổng khối lượng là 21,55 kg. Sau khi giám định còn 14,25kg. Hội đồng tiêu hủy vật chứng đã tiêu hủy theo Quyết định xử lý vật chứng số 63/QĐ-ĐTTH ngày 23/01/2025 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã C, không đề nghị HĐXX xem xét.
- - 01 chiếc xe ô tô 47A-258.68, nhãn hiệu KIA, loại xe ô tô con, số loại CERATO, màu đỏ, của bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T4. Bà T4 giao xe cho ông T5 làm dịch vụ chở khách. Ngày 01/12/2024, ông T5 sử dụng xe ô tô 47A-258.68 làm phương tiện vận chuyển hành khách (H2, D, D1, H1) đi từ huyện L, tỉnh Bình Phước đến tỉnh Bến Tre. Việc H2 đem pháo nổ cất giấu trong thùng xốp để trong cốp xe ô tô 47A-258.68 thì T5 không biết nên Công an thị xã C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T4, không đề nghị HĐXX xem xét.
- - 01 Điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY NOTE 20, màu hồng, số IMEI: 350247875096615 là của Lâm Minh T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI: 866787054175752 là của Lê Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu đen, số IMEI: 866012050216272 là của ông Cao Hoàng D1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A03, màu đỏ, số IMEI: 350538288011591 của Bùi Huy D. Các vật chứng trên không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu. Không đề nghị HĐXX xem xét.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, số IMEI: 860420059483254, tình trạng đã qua sử dụng của Lý H2; Bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc, trao đổi với Lê T mục đích buôn bán hàng cấm.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, chủng loại Iphone X, màu trắng, số IMEI: 354.862.093.889.306, tình trạng đã qua sử dụng của Lê T, bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi với Lý H2 để buôn bán hàng cấm (pháo nổ).
Trong vụ án này còn xác định người bán pháo cho H2. Tuy nhiên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã tiến hành xác minh, thu thập thông tin, tài liệu nhưng không làm rõ được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với Lâm Minh T5, Bùi Huy D, Cao Hoàng D1, Lê Văn H1: Việc H2 mua, đưa pháo cất giấu vào cốp xe ô tô 47A-258.68 thì T5, D, D1, H1 không biết, không tham gia nên không đủ cơ sở xem xét vai trò đồng phạm về tội “Buôn bán hàng cấm”.
Người bào chữa của bị cáo Lê T cho rằng hoàn cảnh phạm tội là do nhận thức yếu kém, do hiểu nhầm là được đốt pháo hoa trong dịp tết, quá trình điều tra đã nhận thức được và khai đầy đủ hành vi mua pháo để đốt vào dịp tết nguyên đán ( đêm giao thừa) chưa hoàn thành của mình, bị cáo có nhân thân tốt, là lao động chính để nuôi cha mẹ và con nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phạt tiền cho bị cáo Lê Tám N1 hơn bị cáo Lý H2, thể hiện rõ vai trò của từng bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Ngày 01/12/2024, Lý H2 có hành vi mua pháo nổ của đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch tại khu vực ngã ba C, xã L huyện L, tỉnh Bình Phước, rồi vận chuyển đến tỉnh Bình Dương bán lại cho Lê T, nhằm mục đích thu lợi bất chính. Khi H2 mang pháo (hàng cấm) đi giao đến khu vực khu phố H, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang. Khối lượng hàng cấm (pháo hoa nổ) được giám định là 21,55kg.
Lê T đã bàn bạc, thỏa thuận và đặt mua của H2 10 bệ pháo hoa nổ để sử dụng, thống nhất địa điểm giao pháo, giá từng bệ pháo, cách thức nhận pháo, thanh toán tiền. Sau đó, H2 mua 21,55 kg pháo nổ nêu trên để vận chuyển bán lại cho T. Hành vi của Lý H2, Lê T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Buôn bán hàng cấm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương ứng, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lý H2 và Lê T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hai bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo H2 là người mua pháo nổ và liên hệ với Lê T để bán lại hưởng chênh lệch; bị cáo T đồng ý mua pháo nổ của bị cáo H2; các bị cáo đã thống nhất địa điểm giao pháo, giá từng bệ pháo, cách thức nhận pháo, thanh toán tiền. Do đó các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với hình thức đồng phạm giản đơn, xét nhân thân của hai bị cáo chưa tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, là lao động tạo ra thu nhập để nuôi cha mẹ và con nhỏ, nên xử phạt tiền là phù hợp nhưng mục đích của bị cáo H2 mua pháo để bán kiếm lời, còn bị cáo T mua pháo là để đốt dịp tết nguyên đán nên phạt tiền nhiều hơn bị cáo T.
[5] Đối với vật chứng của vụ án:
- - 01 (một) bệ pháo hình hộp chữ nhật, có kích thước 12cm x 12cm x 20cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số "KS8-0915L", bên trong 9 ống giấy hình trụ, đường kính 4cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh và 11 (mười một) bệ pháo hình hộp chữ nhật, mỗi bệ có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số "KS4-4911X", bên trong chứa 49 ống giấy hình trụ, đường kính 2,4cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh là pháo nổ. Tổng khối lượng là 21,55 kg. Sau khi giám định còn 14,25kg. Hội đồng tiêu hủy vật chứng đã tiêu hủy theo Quyết định xử lý vật chứng số 63/QĐ-ĐTTH ngày 23/01/2025 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã C, HĐXX không xem xét.
- - 01 chiếc xe ô tô 47A-258.68, nhãn hiệu KIA, loại xe ô tô con, số loại CERATO, màu đỏ, của bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T4. Bà T4 giao xe cho ông T5 làm dịch vụ chở khách. Phương tiện trên có giấy tờ hợp pháp, không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định. Hội đồng xét xử không xem xét.
- - 01 Điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY NOTE 20, màu hồng, số IMEI: 350247875096615 là của Lâm Minh T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI: 866787054175752 là của Lê Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu đen, số IMEI: 866012050216272 là của ông Cao Hoàng D1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A03, màu đỏ, số IMEI: 350538288011591 của Bùi Huy D. Các vật chứng trên không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, số IMEI: 860420059483254, tình trạng đã qua sử dụng của Lý H2; Bị cáo sử dụng điện thoại làm phương tiện liên lạc, trao đổi với Lê T nhằm thực hiện hành vi phạm tội.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, chủng loại Iphone X, màu trắng, số IMEI: 354.862.093.889.306, tình trạng đã qua sử dụng của Lê T, bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi với Lý H2 nhằm thực hiện hành vi phạm tội.
[6] Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với người đàn ông bán pháo hoa cho H2 ở khu vực ngã ba C, xã L, huyện L, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, thu thập thông tin, tài liệu. Tuy nhiên không làm rõ được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với Lâm Minh T5, Bùi Huy D, Cao Hoàng D1, Lê Văn H1: Việc H2 mua, đưa pháo cất giấu vào cốp xe ô tô 47A-258.68 và nói dối là thịt gà đông lạnh thì T5, D, D1, H1 tin tưởng, không biết đó là pháo nổ, không tham gia vào việc mua bán pháo nổ nên không đủ cơ sở xem xét vai trò đồng phạm về tội Buôn bán hàng cấm.
[7] Kiểm sát viên đề nghị hình phạt cho các bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp, đúng quy định nên chấp nhận.
[8] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lê T phù hợp nhận định của hội đồng xét xử nên chấp nhận
[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, Điều 17, 35, 50, 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2/ Tuyên bố bị cáo Lý H2 và Lê T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
3/ Xử phạt bị cáo Lý H2 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng)
Xử phạt bị cáo Lê T 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng)
4/ Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, số IMEI: 860420059483254 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, chủng loại Iphone X, màu trắng, số IMEI: 354.862.093.889.306.
5/ Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lý H2 và Lê T mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đức |
Bản án số 43/2025/HSST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (tội buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 43/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Hùng + Lê Tám - Mua bán hàng cấm
