|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HS - ST Ngày: 30 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Yên
- - Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Hiếu - Giáo viên nghỉ hưu
- Ông Hà Thanh Phong
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân Hện L, tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện L, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Nga - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện L, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2025/TLST - HS ngày 06 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phú H; giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 9 năm 2007, tại L, tỉnh Phú Thọ; Hộ khẩu thường trú + chỗ ở hiện tại: Khu 11, xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ); Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Học vấn: Hiện đang là học sinh lớp 12A7 trường THPT L. Nghề nghiệp: học sinh; Bố đẻ: Nguyễn Tiến Anh, sinh năm 1980. Hiện lao động tự do tại xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ; Mẹ đẻ: Trần Thị Loan, sinh năm 1985. Hiện lao động tự do tại xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ; Vợ, con: chưa có; Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con cả.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/3/2025 đến ngày 07/3/2025 bị khởi tố và được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại xã Vĩnh Lại, Hện L
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người đại diện của bị cáo: Chị Trần Thị Loan, sinh năm 1985, Nơi ĐKHKTT: xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ (Có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Thắm - Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
* Bị hại: Anh Đỗ Đình Công, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu 1, xã Cao Xá, Hện L, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
*. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Nguyễn Phú Phúc, sinh năm 2012; Địa chỉ: Khu 11, xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
- Chị Trần Thị Loan, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu 11, xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ (Có mặt)
- Anh Nguyễn Công Minh, sinh năm 2001; Địa chỉ: Khu 5, xã Phú Lộc, Hện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Bảo Nam, sinh năm 2008; Địa chỉ: Khu Vân Cơ, phường Minh Phương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đại diện Bà Nguyễn Thị Lý, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu Vân Cơ, phường Minh Phương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên Nguyễn Phú H, sinh ngày 18/9/2007; Nơi ĐKHKTT: khu 11, xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ đã nảy sinh ý định tìm xem ai có xe máy để sơ hở thì sẽ trộm cắp để bán. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 27/12/2024, H rủ em trai ruột là Nguyễn Phú Phúc, sinh ngày 17/6/2012, HKTT: xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ cùng đi trộm cắp tài sản với H, Phúc đồng ý. H bảo Phúc đi bộ trước, xem nhà nào có xe máy và có người không thì báo lại cho H, H đi bộ sau. Khi đi đến khu vực nhà anh Đỗ Đình Công, sinh năm 1990 ở Khu 1, xã Cao Xá, Hện L, tỉnh Phú Thọ; Phúc phát hiện ra trong khu vực sân nhà anh Công có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh, BKS 19S1 - 376.63 là xe của anh Công nên đã nói với H. Sau đó, H quan sát xung quanh không thấy ai nên đã nhảy qua tường rào vào khu vực sân nhà anh Công, còn Phúc hiểu ý đứng bên ngoài cảnh giới nếu thấy có ai thì sẽ báo cho H. H đi lại gần dắt bộ chiếc xe và mở cổng cho xe ra ngoài. Thấy H dắt được xe ra khỏi cổng thì Phúc đi bộ về nhà, còn H một mình dắt xe ra cất dấu tại khu nghĩa trang Gò Thiện ở làng Phù Phong, xã Cao Xá, Hện L rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 02 giờ ngày 28/12/2024, H tự ý lấy chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 màu sơn đen xanh, số IMEI 1: 86637604351333, IMEI 2: 866376043851325 không có gắn sim, máy hư hỏng nhiều, đã qua sử dụng của mẹ đẻ H là chị Trần Thị Loan, sinh năm 1985, HKTT: xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ để đăng nhập tài khoản zalo, Messenger để nhờ Lê Đức Mạnh, sinh năm 2005; HKTT: Khu 3, xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ tìm chỗ bán xe. H nói với Mạnh “em đang có 01 con xe AB vừa mua được không có giấy tờ anh biết chỗ nào cắm hoặc bán chỉ em với”. Mạnh đồng ý đưa H đi cắm xe, H xác định nếu cắm được xe thì sẽ cho Mạnh ít tiền công. Khoảng 03 giờ cùng ngày thì H và Mạnh đến khu vực H cất giấu xe trước đó để mang xe đi cắm. Tại đây, H nói với Mạnh: “ đây là chiếc xe máy AB của em mua được không có giấy tờ, em không dám mang về vì sợ bố mẹ, em muốn nhờ anh dẫn đi cắm, nếu cắm được, em sẽ cho anh ít tiền”. Mạnh hỏi H “chìa khóa xe đâu để đi”, H nói “bị mất chìa khóa xe”. Do xe không có chìa khóa nên Mạnh bảo với H là phải mang xe đi đánh chìa khóa mới dễ cắm hoặc bán. Sau đó, Mạnh gọi điện cho Lê Hồng Sơn, sinh năm 2007; HKTT: xã Bản Nguyên, Hện L, tỉnh Phú Thọ bảo Sơn mang xe xuống để đẩy xe của H mang đi cắm. Sơn đồng ý, một lúc sau Sơn đi xe máy Honda Vision (không xác định được biển kiểm soát) chở một người bạn của Sơn tên là Hiếu (không xác định được tên tuổi địa chỉ cụ thể của Hiếu ở đâu) đến nghĩa trang. H ngồi trên chiếc xe Honda Airblade đã trộm cắp được, còn Mạnh, Sơn, Hiếu đi trên chiếc xe Honda Vision của Sơn do Sơn điều khiển. Sơn lấy chân phải đạp vào để chân phía sau bên trái xe của H để đẩy đến 01 cửa hàng sửa khóa trên địa bàn Hện Phù Ninh để đánh chìa khóa (không xác định được tên cửa hàng và tên, tuổi, địa chỉ của chủ quán). Tại đây, H nói với chủ cửa hàng “xe máy cháu bị rơi chìa khóa bác đánh lại cho cháu với”. Chủ quán đồng ý và đánh chìa khóa cho H, tiền đánh chìa khóa hết 1.000.000đ, lúc này do H không có đủ tiền nên Hiếu đã mang điện thoại của Hiếu đi cầm cố và đưa cho H 1.000.000đ để thanh toán tiền cho thợ sửa khóa. Mạnh nói với H có biết anh Hoàng Minh Khoa, sinh năm 2002; HKTT: Khu 2, xã Phú Lộc, Hện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ làm ở quán gà rán ở vòng xuyến Bãi Bằng thuộc thị trấn Phong Châu, Hện Phù Ninh có thể cầm cố chiếc xe. Sau đó, tất cả cùng nhau đến khu vực vỉa hè gần quán gà rán để đợi Khoa đến nhờ Khoa dẫn đi cắm xe. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 28/12/2024 thì Khoa đến gặp 04 người trên. H chỉ nói là xe của H nhưng không mang giấy tờ và nhờ Khoa đưa đi cắm, Khoa đồng ý. Khoa dẫn H đến cửa hàng mua bán xe máy của anh Nguyễn Công Minh, sinh năm 2001; HKTT: Khu 5, xã Phú Lộc, Hện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đặt tại khu 11, xã Phú Lộc, Hện Phù Ninh để giới thiệu cho H cắm chiếc xe máy trên. Tại đây, Minh có hỏi H về giấy tờ xe, H nói dối với Minh đây là xe của H nhưng H không mang giấy tờ xe, H muốn cầm cố xe lấy 10.000.000đ và hẹn 01 tháng sau sẽ đến lấy xe. Do tin tưởng Khoa là bạn bè giới thiệu, nên Minh đã nhận cầm cố chiếc xe trên với số tiền 10.000.000đ, khi nào H có tiền và mang giấy tờ xe tới để lấy lại xe thì Minh sẽ tính cả gốc và lãi là 11.800.000đ. Hai bên chỉ thống nhất bằng lời nói không lập thành văn bản. Sau đó, Minh đưa tiền cho H, H cầm tiền và giao xe cho Minh. Cầm cố xe xong thì Khoa chở H quay lại gặp Mạnh, Sơn, Hiếu. Số tiền 10.000.000₫ H đã đưa cho Khoa 500.000đ, đưa cho Mạnh 02 lần tổng là 2.600.000₫ (Mạnh đưa cho Sơn, Hiếu 1.000.000đ để lấy lại điện thoại mà Hiếu đã cầm cố trước đó); đưa cho Sơn 1.400.000đ; số tiền còn lại là 5.500.000₫ H tiêu sài cá nhân hết.
Sau khi Minh nhận cầm cố chiếc xe máy của H đến ngày 20/02/2025, tại cửa hàng của Minh có anh Tạ Ngọc Tuấn, sinh năm 2000 ở xã Phú Lộc, Hện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ dẫn anh Nguyễn Bảo Nam, sinh năm 2008 ở Minh Phương, thành phố Việt Trì đến để hỏi mua xe máy trên. Do đã quá thời hạn thỏa thuận mà không thấy H đến nhận xe nên Minh đã đồng ý bán chiếc xe cho Nam với giá 15.900.000. Qúa trình thỏa thuận mua bán xe, Nam có hỏi Minh về giấy tờ xe thì Minh hẹn Nam khi nào H đưa giấy tờ xe thì Minh sẽ đưa giấy tờ xe cho Nam. Sau đó Nam cHển cho Minh số tiền 15.400.000đ, còn 500.000₫ Nam sẽ đưa khi nào lấy được giấy tờ. Số tiền 15.400.000₫ Minh nhận từ Nam, Minh đã tiêu sài cá nhân hết.
Quá trình điều tra Nguyễn Bảo Nam đã tự nguyện giao nộp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh, BKS 19S1 - 376.63, chị Loan đã tự nguyện giao nộp 01chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 màu sơn đen xanh, số IMEI 1: 86637604351333, IMEI 2: 866376043851325 không có gắn sim, máy hư hỏng nhiều, đã qua sử dụng để phục vụ công tác điều tra.
Ngày 04/3/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã có yêu cầu định giá tài sản đề nghị Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố Việt Trì tiến hành định giá đối với chiếc xe mà H đã trộm cắp. Tại bản kết luận định giá tài sản số 142/KL - HĐĐGTS ngày 07/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố Việt Trì kết luận:
“Giá 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, màu xanh đen, sản xuất năm 2022, biển kiểm soát 19S1 – 376.63 (số máy: JK14E0074907, số khung: RLHJK 140XNZ043701), xe đã qua sử dụng, có giá là 23.500.000đ (hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng)”
Đối với Nguyễn Phú Phúc là đồng phạm của H trong vụ án này, tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì Phúc mới 12 tuổi 6 tháng 10 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 12 Bộ luật hình sự. Do vậy Cơ quan điều tra không xử lý về hình sự mà giao cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý.
Đối với Lê Đức Mạnh; Hoàng Minh Khoa; Lê Hồng Sơn (Sơn đã được Cơ quan điều tra triệu tập nhiều lần nhưng Sơn vắng mặt tại địa phương); nam thanh niên tên là Hiếu (là bạn của Sơn, chưa xác định được tên, tuổi địa chỉ cụ thể) là những người đã đi cùng H mang xe máy đi thay khóa và đưa H đi cầm cố chiếc xe máy vào ngày 28/12/2024. Tại cơ quan điều tra, Mạnh và Khoa khai không biết xe H trộm cắp mà có, bản thân H cũng khai khi đi cùng chỉ nói là xe của H không nói là xe trộm cắp, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Nguyễn Công Minh là người cầm cố chiếc xe máy trên cho H với giá 10.000.000 đồng. H hẹn 1 tháng sau đến chuộc xe và trả thêm cho Minh 1.800.000 đồng tiền lãi. Sau đó, hết thời gian 01 tháng như đã hẹn nhưng không thấy H đến chuộc xe và không liên lạc được với H nên Minh đã bán chiếc xe trên cho Nguyễn Bảo Nam. Bản thân Minh không biết chiếc xe trên là do H trộm cắp mà có, do tin tưởng H được Khoa dẫn đến nên Minh đã nhận cầm cố chiếc xe trên. Do vậy, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xử lý Minh về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Về số tiền lãi 1.800.000đ/01 tháng/10.000.000đ, bản thân Minh khẳng định việc Minh thỏa thuận như vậy là để H có trách nhiệm đến chuộc xe chứ không có ý định lấy của H số tiền lãi, trên thực tế khi Minh nhận số tiền bồi thường từ H bản thân Minh cũng không lấy số tiền lãi trên, do đó cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý hành chính đối với Minh. Qúa trình điều tra xác đinh, Nguyễn Công Minh hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ không đúng với ngành nghề theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể do phòng tài chính kế hoạch - UBND Hện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 21/11/2024. Hành vi này của Nguyễn Công Minh đã vi phạm theo khoản 3 điều 6 Nghị định 98/2020/NĐ - CP ngày 26/08/2020. Do vậy Cơ quan CSĐT cHển hồ sơ đến Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Phú Thọ để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền theo khoản 3 điều 6 Nghị định 98/2020/NĐ CP ngày 26/08/2020 của Chính phủ với mức phạt là 12.500.000 đồng.
Đối với Nguyễn Bảo Nam, là người mua lại chiếc xe máy trên từ Nguyễn Công Minh bán, bản thân Nam không biết đây là chiếc xe do người khác phạm tội mà có, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Phú H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên, lời khai của H phù hợp với biên bản xác định hiện trường, lời khai bị hại, lời khai người liên quan, vật chứng đã thu giữ cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về việc thu giữ và xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng là: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, màu xanh đen, sản xuất năm 2022, biển kiểm soát 19S1 - 376.63 (số máy: JK14E0074907, số khung: RLHJK 140XNZ043701), xe đã qua sử dụng, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đỗ Đình Công.
Đối với vật chứng là: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 màu sơn đen xanh, số IMEI 1: 866376043851333, IMEI 2: 866376043851325 không có gắn sim, máy hư hỏng nhiều, đã qua sử dụng; hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Công an tỉnh Phú Thọ theo quy định.
Về tài sản: Bị cáo hiện là học sinh, sống phụ thuộc vào bố mẹ không có thu nhập, tài sản gì ngoài một số đồ dùng sinh hoạt cá nhân
Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra, Mạnh trả lại cho H số tiền 2.600.000đ, Khoa trả lại cho H số tiền 500.000đ, đối với số tiền 1.400.000₫ H đưa cho Sơn, H tự nguyện khắc phục không đề nghị Sơn trả lại. H cùng gia đình đã trả lại cho anh Minh số tiền 10.000.000đ. Anh Minh cũng đã trả lại cho Nam số tiền 15.400.000đ. Các bên đều đã nhận đủ và không có ai có đề nghị gì khác. Về phía bị hại cũng đã nhận lại xe máy và không có đề nghị bồi thường gì với H.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ vụ lợi.
Tại Cáo trạng số 21/CT - VKSLT ngày 04/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân Hện L, tỉnh Phú Thọ đã truy tố đối với Nguyễn Phú H về tội "Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện L, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự. Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên.
- *. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- *. Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Phú H từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ (CTKGG), trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 04/3/2025 đến ngày 07/3/2025 (quy đổi 01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ). Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Phú H cho UBND xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Buộc bị cáo Nguyễn Phú H phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần theo quy định tại Điều 36 BLHS. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
*. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Trả lại cho chị Trần Thị Loan 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 màu sơn đen xanh, số IMEI 1: 866376043851333, IMEI 2: 866376043851325 không có gắn sim, máy hư hỏng nhiều, đã qua sử dụng (do máy hết pin do vậy không mở kiểm tra được IMEI của máy).
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 05/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự Hện L, tỉnh Phú Thọ).
- - Xác nhận trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu anh Đỗ Đình Công 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, màu xanh đen, sản xuất năm 2022, biển kiểm soát 19S1 - 376.63 (số máy: JK14E0074907, số khung: RLHJK 140XNZ043701), xe đã qua sử dụng.
- - Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, Lê Đức Mạnh trả lại cho Nguyễn Phú H số tiền 2.600.000đ, Hoàng Minh Khoa trả lại cho Nguyễn Phú H số tiền 500.000đ, đối với số tiền 1.400.000₫ H đưa cho Lê Hồng Sơn, H tự nguyện khắc phục không đề nghị Sơn trả lại. H cùng gia đình đã trả lại cho anh Nguyễn Công Minh số tiền 10.000.000đ. Anh Minh cũng đã trả lại cho Nguyễn Bảo Nam số tiền 15.400.000đ. Các bên đều đã nhận đủ và không có ai có đề nghị gì khác. Nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Phú H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận gì về tội danh, mức hình phạt.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an Hện L, Viện kiểm sát nhân dân Hện L; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.
[2] . Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 27/12/2024 tại khu vực sân của nhà anh Đỗ Đình Công ở Khu 1, xã Cao Xá, Hện L, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Phú H đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, màu xanh đen, sản xuất năm 2022, biển kiểm soát 19S1 - 376.63 của anh Công, trị giá: 23.500.000₫ (hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Phú H đã phạm tội "Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
[3]. Về tính chất, động cơ, mục đích của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người chưa thành niên (Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo được 17 tuổi 03 tháng). Vì động cơ, mục đích vụ lợi, muốn trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thuộc loại tội ít ngiêm trọng, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của xã hội. Vì vậy, cần xử lý để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với bị cáo.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [4.1]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; chưa từng có tiền án, tiền sự.
- [4.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- [4.3]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra bị cáo H đã tích cực tác động gia đình để bồi thường khắc phục hậu quả. Nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
[5.1]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo là người chưa thành niên, phạm tội ít nghiêm trọng, có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo ở ngoài xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo; để bị cáo cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo được 17 tuổi 03 tháng, vì vậy cần áp dụng các điều luật của Luật tư pháp người chưa thành niên phạm tội. Áp dụng mức phạt từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ và được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 04/3/2025 đến ngày 07/3/2025 (quy đổi 01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ) như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[5.2 ] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu đồng và theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự, thì trong thời gian chấp hành án hình phạt cải tạo không giam giữ, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước.
Hội đồng xét xử, xét thấy: Bị cáo là người chưa thành niên, hiện là học sinh. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Tuy nhiên, cần buộc bị cáo Nguyễn Phú H phải thực hiện một số Công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- - Cần trả lại cho chị Loan 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 màu sơn đen xanh, số IMEI 1: 866376043851333, IMEI 2: 866376043851325 không có gắn sim, máy hư hỏng nhiều, đã qua sử dụng (do máy hết pin do vậy không mở kiểm tra được IMEI của máy) do khi bị cáo lấy chiếc điện thoại để liên lạc, chị Loan không biết.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 05/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự Hện L, tỉnh Phú Thọ).
- - Cần xác nhận trong quá trình điều tra đối với vật chứng là: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, màu xanh đen, sản xuất năm 2022, biển kiểm soát 19S1 – 376.63 (số máy: JK14E0074907, số khung: RLHJK 140XNZ043701), xe đã qua sử dụng, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu anh Đỗ Đình Công là phù hợp quy định của pháp luật.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, Lê Đức Mạnh trả lại cho Nguyễn Phú H số tiền 2.600.000đ, Hoàng Minh Khoa trả lại cho Nguyễn Phú H số tiền 500.000đ, đối với số tiền 1.400.000₫ H đưa cho Lê Hồng Sơn, H tự nguyện khắc phục không đề nghị Sơn trả lại. H cùng gia đình đã trả lại cho anh Nguyễn Công Minh số tiền 10.000.000đ. Anh Minh cũng đã trả lại cho Nguyễn Bảo Nam số tiền 15.400.000đ. Các bên đều đã nhận đủ và không có ai có đề nghị gì khác. Về phía bị hại Đỗ Đình Công cũng đã nhận lại xe máy và không có đề nghị bồi thường gì với H. Nên không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự là phù hợp.
[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Phú H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9]. Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Phú Phúc là đồng phạm của H trong vụ án này, tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì Phúc mới 12 tuổi 6 tháng 10 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 12 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý về hình sự mà giao cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý là phù hợp
Đối với Lê Đức Mạnh; Hoàng Minh Khoa; Lê Hồng Sơn; nam thanh niên tên là Hiếu là những người đã đi cùng H mang xe máy đi thay khóa và đưa H đi cầm cố chiếc xe máy vào ngày 28/12/2024. Tại cơ quan điều tra, Mạnh và Khoa khai không biết xe H trộm cắp mà có, bản thân H cũng khai khi đi cùng chỉ nói là xe của H không nói là xe trộm cắp, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với Nguyễn Công Minh là người cầm cố chiếc xe máy trên cho H với giá 10.000.000 đồng. H hẹn 1 tháng sau đến chuộc xe và trả thêm cho Minh 1.800.000 đồng tiền lãi. Sau đó, hết thời gian 01 tháng như đã hẹn nhưng không thấy H đến chuộc xe và không liên lạc được với H nên Minh đã bán chiếc xe trên cho Nguyễn Bảo Nam. Bản thân Minh không biết chiếc xe trên là do H trộm cắp mà có, do tin tưởng H được Khoa dẫn đến nên Minh đã nhận cầm cố chiếc xe trên. Do vậy, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xử lý Minh về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Về số tiền lãi 1.800.000đ/01 tháng/10.000.000đ, bản thân Minh khẳng định việc Minh thỏa thuận như vậy là để H có trách nhiệm đến chuộc xe chứ không có ý định lấy của H số tiền lãi, trên thực tế khi Minh nhận số tiền bồi thường từ H bản thân Minh cũng không lấy số tiền lãi trên, do đó cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý hành chính đối với Minh. Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Công Minh hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ không đúng với ngành nghề theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể do phòng tài chính kế hoạch - UBND Hện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 21/11/2024. Hành vi này của Nguyễn Công Minh đã vi phạm theo khoản 3 điều 6 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/08/2020. Do vậy Cơ quan CSĐT cHển hồ sơ đến Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Phú Thọ để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền theo khoản 3 điều 6 Nghị định 98/2020/NĐ - CP ngày 26/08/2020 của Chính phủ với mức phạt là 12.500.000 đồng là phù hợp.
Đối với Nguyễn Bảo Nam, là người mua lại chiếc xe máy trên từ Nguyễn Công Minh bán, bản thân Nam không biết đây là chiếc xe do người khác phạm tội mà có, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[10]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện L thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự. Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên. Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú H phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt:
- - Về hình phạt chính:
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- - Trả lại cho chị Loan 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 màu sơn đen xanh, số IMEI 1: 866376043851333, IMEI 2: 866376043851325 không có gắn sim, máy hư hỏng nhiều, đã qua sử dụng (do máy hết pin do vậy không mở kiểm tra được IMEI của máy).
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 05/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự Hện L, tỉnh Phú Thọ).
- - Xác nhận trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu anh Đỗ Đình Công 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, màu xanh đen, sản xuất năm 2022, biển kiểm soát 19S1 - 376.63 (số máy: JK14E0074907, số khung: RLHJK 140XNZ043701), xe đã qua sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Phú H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú H 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ (CTKGG). Bị cáo được khấu trừ 04 (bốn) ngày tạm giữ (từ ngày 04/3/2025 đến ngày 07/3/2025) quy đổi thành 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại phải chấp hành là 05 (năm) tháng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Phú H cho UBND xã Vĩnh Lại, Hện L, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ) giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Buộc bị cáo Nguyễn Phú H phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần theo quy định tại Điều 36 BLHS. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người đại diện cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đình Yên |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 54/2018/TB -TA |
Việt Trì ngày 04 tháng 5 năm 2018 |
THÔNG BÁO
KẾT QUẢ XÉT XỬ HÌNH SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
Căn cứ vào Điều 229 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2018/ HSST ngày 26 tháng 4 năm 2018 củ Toà án nhân dân thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ.
Thông báo cho UBND phường Vân Phú, xã Thụy Vân,thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xã Phù Ninh, Hện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọbiếtkết quả xét xử vụ án hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo:
Họ và tên: 1. Trần Thị Mùi, sinh năm 1979 tại Yên Lập, Phú Thọ;
Nơi c trú: khu 3, phường Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
2. Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1983 tại Phù Ninh, Phú Thọ;
Nơi c trú: Khu 6, xã Phù Ninh, Hện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
3. Thái Thị Thanh, sinh năm 1968 tại Hương Khê, Hà Tĩnh;
Nơi c trú: Khu 1A, phường Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
4. Vũ Thị Thanh Hường, sinh năm 1981 tại Đại Từ, Thái Nguyên;
Nơi c trú: Đội 4, xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
5. Dương Quốc Khánh, sinh năm 1976 tại Việt Trì, Phú Thọ;
Nơi c trú: Khu 3, phường Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Mùi, Nguyễn Văn Dũng, Vũ Thị Thanh Hường, Thái Thị Thanh, Dương Quốc Khánh phạm tội “Đánh bạc”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 248, Điều 31, điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009;
Xử phạt bị cáo Trần Thị Mùi 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 06 (Sáu) ngày tạm giữ từ ngày 30/12/2017 đến ngày 05/01/2018 = 18 (Mười tám) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 14 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Vân Phú, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhận được bản án và Quyết định thi hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 248, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009;
Xử phạt Nguyễn Văn Dũng 04 (Bốn) tháng tù giam, trừ 06 (Sáu) ngày tạm giữ tạm giam từ ngày 30/12/2017 đến ngày 05/01/2018, bị cáo Dũng còn phải chấp hành 03 tháng 24 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 248, Điều 30, điểm h, p, s khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009;
Xử phạt Thái Thị Thanh: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công.
Đối với bị cáo Vũ Thị Thanh Hường và bị cáo Dương Quốc Khánh Căn cứ vào khoản 1 Điều 248, Điều 30, điểm h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009;
Xử phạt tiền sung công bị cáo số tiền như sau:
- - Vũ Thị Thanh Hường: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng)
- - Dương Quốc Khánh: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng)
(Số tiền bị xử phạt bị cáoThái Thị Thanh, Vũ Thị Thanh Hường Dương Quốc Khánh phải nộp một lần trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mành tre; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân không có giá trị sử dụng;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 5.200.000 đồng (Trong đó: Trần Thị Mùi: 1.350.000 đồng; Vũ Thị Thanh Hường: 1.700.000 đồng; Thái Thị Thanh: 450.000 đồng; Dương Quốc Khánh: 850.000 đồng; Nguyễn Văn Dũng: 850.000 đồng).(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/3/2018)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Thị Mùi, Vũ Thị Thanh Hường, Thái Thị Thanh, Nguyễn Văn Dũng, Dương Quốc Khánh mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Nơi nhân: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
- - UBND nơi bị cáo cư trú
- - Lu hồ sơ vụ án.
Bản án số 43/2025/HS - ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 43/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo H phạm tội TCTS
