Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 43/2025/HS - ST
Ngày: 27/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy

Ông Đinh Văn Cương

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Cương – là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Anh H; sinh năm: 1996; tại: Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 8/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L, (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; tiền án: không; tiền sự: Tại Quyết định số 13/QĐ-XPHC ngày 29/9/2023 của Công an thị trấn Đ, huyện L xử phạt 1.500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Tại Quyết định số 205/QĐ-XPTT ngày 11/10/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn Đ biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời gian 03 tháng. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Cao Thị Mỹ L1, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Lê Thị X, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 19/4/2025, Phạm Anh H do không có tiền mua ma túy để sử dụng nên H đã đi tìm nhà dân sở hở để đột nhập chiếm đoạt tài sản. H đi bộ từ nhà ngang qua vườn cà phê của bà Cao Thị Mỹ L1 tại thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng thì nhìn thấy 01 túi đựng đồ màu đỏ, đang để tại vườn cà phê. Thấy không có ai trông coi nên H đi đến vị trí túi đựng đồ trên để lục lọi nếu có tài sản sẽ chiếm đoạt. Khi H lục lọi thì phát hiện bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax, màu vàng. Thấy vậy, H lấy chiếc điện thoại trên để vào trong túi áo rồi đi bộ ra đường quốc lộ 27 thuộc xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau đó, H đón xe buýt đi vào xã T, tỉnh Lâm Đồng để bán chiếc điện thoại đã chiếm đoạt được. Khi đến nơi, H đi vào cửa hàng điện thoại di động “Cường H1” thuộc thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng bán chiếc điện thoại Iphone 16 Promax trên cho bà Lê Thị X với số tiền 2.000.000đồng. Sau khi bán điện thoại xong H đã tiêu sài cá nhân hết số tiền trên. Sau đó, H được triệu tập lên cơ quan Công an để làm việc và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận số 27/KLĐG ngày 28/5/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Lâm Đồng xác định: Tài sản định giá là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 16 Promax, màu vàng, bản 256GB tại thời điểm định giá ngày 19/4/2025 có giá trị 29.691.000đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng để xét xử bị can Phạm Anh Hiển về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Anh H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Anh H từ 09 đến 12 tháng tù. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

3

Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 19/4/2025, tại vườn cà phê của bà Cao Thị Mỹ L1 thuộc thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 16 Promax, màu vàng, bản 256GB. Tài sản bị cáo trộm cắp theo định giá của cơ quan chuyên môn có giá trị là 29.691.000đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn đồng).

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ xác định hiện trường, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phạm Anh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong nội bộ quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã lợi dụng lúc chủ sở hữu quản lý tài sản sơ hở, địa hình xung quanh vắng người qua lại, lén lút trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 16 Promax, màu vàng, bản 256GB, đây là loại tài sản có giá trị, dễ cất giấu và dễ tiêu thụ.

Xét nhân thân của bị cáo: ngày 29/9/2023 bị cáo bị Công an thị trấn Đ, huyện L xử phạt 1.500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đến ngày 04/10/2023 Công an thị trấn Đinh Văn tiếp tục lập biên bản vi phạm hành

4

chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 11/10/2023 Ủy ban nhân dân thị trấn Đ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với bị cáo với thời gian 03 tháng. Sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục sử dụng mua ma túy, khi không có tiền mua ma túy bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì bị phát hiện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà mình đã thực hiện.

Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, tài sản của bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng đối với bị cáo tại phiên tòa, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo có điều kiện rèn luyện bản thân, cải tạo, giáo dục và từ bỏ ma túy để trở thành công dân lương thiện, sống biết tuân thủ pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung.

[3] Về Trách nhiệm dân sự: tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện bị hại không có ý kiến và yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 2.000.000đồng bà Cao Thị Mỹ L1 dùng để chuộc điện thoại từ bà Lê Thị X, bị cáo đã bồi thường cho bà L1 số tiền này. Tại phiên tòa, bà L1 vắng mặt, trong hồ sơ thể hiện bà L1 không có ý kiến và yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Đối với bà Lê Thị X mua điện thoại di động hiệu Iphone 16Promax, màu vàng mà bị cáo trộm cắp được của bà Cao Thị Mỹ L1, quá trình điều tra xác định bà X khi mua điện thoại không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Do đó, không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà X về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

5

[4]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Anh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Anh H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/11/2025), riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS khu vực 3 - Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng
  • - Phòng THADS khu vực 3 - Lâm Đồng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; người liên quan;
  • - Lưu HS - BP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Nguyễn Thị Sơn Linh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS - ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 43/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Anh H phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger