Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày: 26/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhạ, ông Võ Quốc Linh

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 26/11/2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST- HS, ngày 30/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXX-HSST ngày 11/11/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn D. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/3/1978 tại xã N, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn H, xã N, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Con ông: Trần Trung T (Đã chết); Con bà: Bùi Thị N (Đã chết); A, chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Phạm Thị C, sinh năm 1982 (Đã ly hôn); Con: Có 01 con, sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 30/12/2021, bị Công an xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh lập hồ sơ giáo dục tại xã.
  • Ngày 25/12/2024, bị Công an xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ANTT, ATXH, phòng chống tệ nạn xã hội số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành quyết định.
  • Ngày 26/12/2024, bị Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam H - Công an tỉnh H. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Quách Ngọc Q, sinh năm 1958; trú tại: Ngõ A đường N, phường X, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Chị Thái Thị Bích V, sinh năm 1983; trú tại: Xóm L, xã L, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Nhân viên Ngân hàng (Vắng mặt)
  • Chị Trần Thị L, sinh năm 1981; trú tại: Thôn H, xã N, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)

Người chứng kiến:

  • Ông Trần Quyết T1, sinh năm 1956; trú tại: Thôn X, xã N, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)

Những người tham gia tố tụng khác hỗ trợ tổ chức phiên tòa:

  • Tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H:
    • Đồng chí Đinh Văn S - Tổ trưởng tổ dẫn giải.
    • Đồng chí Dương Đình T2 – Đội cảnh sát bảo vệ;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03/9/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine, Trần Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade, màu đen xám, biển kiểm soát 37Z9-8404 đi đến khu vực bến xe cũ thuộc phường T, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến phía trước khu vực bến xe cũ, D thấy một người đàn ông không quen biết ngồi trên xe mô tô ở vỉa hè nên đi lại hỏi: Anh có biết ai lấy được ma túy Heroine không, người đàn ông nói: Lấy nhiều không, D nói: Lấy năm trăm nghìn đồng, thì người đàn ông nói: T3 để hỏi cho, rồi người này điều khiển xe mô tô đi theo đường L về hướng Bắc. Khoảng 10 phút sau người đàn ông quay lại và đưa cho D một gói thiếc màu vàng bên trong chứa ma túy, D đưa số tiền 500.000 đồng cho người đàn ông. Sau đó, D kẹp gói ma túy vừa mua được trên tay trái, rồi điều khiển xe mô tô nói trên đi về và tìm hiệu thuốc để mua bơm kim tiêm, nước cất nhằm mục đích sử dụng gói ma túy vừa mua được. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi D đi đến địa phận thôn X, xã N, tỉnh Hà Tĩnh thì bị Công an xã N yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Do lo sợ, D đã vứt gói thiếc màu vàng chứa ma túy xuống mặt đường cạnh vị trí D dừng xe, Công an xã N yêu cầu D nhặt gói thiếc màu vàng nói trên lên để kiểm tra, lúc kiểm tra cơ quan Công an phát hiện bên trong gói thiếc màu vàng có chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy. Công an xã N lập biên bắt người phạm tội quả tang, yêu cầu Trần Văn D về trụ sở Công an xã N làm việc.

Quá trình làm việc, Trần Văn D còn khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trước đó như sau: Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02/9/2025, D đi từ nhà đến bãi biển C thuộc phường C, tỉnh Nghệ An để chơi. Quá trình ngồi ăn uống tại quán (không xác định được tên, địa chỉ), D gặp 05 nam thanh niên (không rõ tên tuổi, địa chỉ), rồi giao lưu uống rượu với nhau. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong, D đi bộ một mình trên bãi biển thì gặp 05 nam thanh niên nói trên đang ngồi trên bãi cát. Thấy D, những người này nói: Có làm khói không. D đi đến gần thì thấy 05 nam thanh niên đang ngồi theo vòng tròn, ở giữa có một cái coóng làm bằng ống thủy tinh cắm vào một chai nhựa đựng nước và trên chai nhựa cắm ống hút nhựa. D biết những người này đang sử dụng ma túy đá, nên D đồng ý và ngồi xuống. Lúc này, một người trong nhóm cầm coóng lên, trong phễu ống thủy tinh đã có ma túy đá và đưa về phía D, D cầm ống hút nhựa đưa vào miệng, rồi nam thanh niên này dùng bật lửa hơ phía dưới phễu chứa ma túy đá cho đến khi ma túy đá trở thành dạng khói rồi D hút từ từ vào cơ thể. Sau khi D hút xong thì đến lượt những nam thanh niên khác cũng hút và hết 01 lượt. Lượt thứ hai cũng tương tự. Sau khi hút 02 lượt ma túy, D đi về nhà.

Tại Kết luận giám định số 1037/KL-KTHS ngày 08/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục đựng bên trong một gói giấy thiếc màu vàng, không rõ hình gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,05 gam.

Tại Kết luận giám định số 6777/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của V1 Bộ C1, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine và sản phẩm chuyển hóa của ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu kí hiệu M1 gửi giám định. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 247 ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng;

  • 01 gói thiếc màu vàng không rõ hình, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục là Heroin, khối lương 0,05 gam, đã lấy 0,02 gam để giám định, còn lại 0,03 gam.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đen xám, biển kiểm soát 37Z9-8404, số khung RLHJF2706BY165916, số máy JF27E-105681 đã qua sử dụng;
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K, màu đen, số Imei 1 861063057426013, Imei 2 861063057426005, sim số 0896320122 và 0947292480.

Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đen xám, số khung RLHJF2706BY165916, số máy JF27E-105681 do ông Quách Ngọc Q, trú tại đường N, phường X, thành phố Hà Nội đăng ký quyền sở hữu. Khoảng năm 2013, ông Q bán lại cho một cửa hàng xe máy cũ (không nhớ

địa chỉ). Còn bị cáo Trần Văn D khai chiếc xe nói trên mượn của một người đàn ông tên T4 là khách ăn sáng tại quán ăn của chị Trần Thị L, trú tại thôn H, xã N, tỉnh Hà Tĩnh - là em gái bị cáo. Cơ quan điều tra đã thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô nói trên theo quy định, hiện chưa có kết quả.

Còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K, màu đen là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Trần Văn D, không liên quan đến hành vi phạm tội. Các vật chứng đã thu giữ nói trên đã chuyển cho Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 xử lý theo quy định.

Với hành vi và nội dung vụ án nêu trên, tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS-ĐT ngày 30/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh đã truy tố Trần Văn D về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

- Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn D mức án từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (04/9/2025).

* Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Khoản 2 Điều 228 Bộ luật dân sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gói thiếc màu vàng không rõ hình, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục là H, khối lượng 0,05 gam, đã lấy 0,02 gam để giám định, còn lại 0,03 gam. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K, màu đen, số Imei 1 861063057426013, Imei 2 861063057426005, sim số 0896320122 và 0947292480. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đen xám, biển kiểm soát 37Z9-8404, số khung RLHJF2706BY165916, số máy JF27E-105681 đề nghị tuyên xử sau 01 năm kể từ ngày Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H ra thông báo (ngày 24/9/2025) nếu không ai nhận lại chiếc xe trên thì tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.

* Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo Trần Văn D không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện viện kiểm sát chỉ tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa, khắc phục sai phạm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị L không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên hồ sơ thể hiện họ không có yêu cầu gì. Xét thấy, việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02/9/2025, tại bãi biển C thuộc phường C, tỉnh Nghệ An, Trần Văn D - đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế (M) đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Đến khoảng 21 giờ ngày 03/9/2025, tại Km19 Quốc lộ H thuộc địa phận thôn X, xã N, tỉnh Hà Tĩnh khi Trần Văn D có hành vi tàng trữ 0,05 gam Heroin để sử dụng thì bị Công an xã N phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của Trần Văn D đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Vì vậy, việc truy tố và xét xử Trần Văn D theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Tình tiết tăng nặng: Không.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Gia đình có công với cách mạng (bố bị cáo là ông Trần Trung T được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; Gia đình thuộc hộ cận nghèo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trần Văn D là người nghiện và đã tham gia điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone tại cơ sở M1 thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh H từ ngày 07/01/2016 cho đến ngày 23/8/2024 D tự ý chấm dứt điều trị. Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã được tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ma túy nhưng trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế (Methadone) bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm

cho xã hội, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn minh, phát sinh nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội, tiềm ẩn nguy cơ gây ra các loại tội phạm khác và làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Do đó, cần lên mức án nghiêm đối với bị cáo để có tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Mức hình phạt và đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Những nội dung khác liên quan trong vụ án:

Trong vụ án này, 05 nam thanh niên mà bị cáo khai là những người cho bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy tại bãi biển C vào ngày 02/9/2025 cũng như người đàn ông tại khu vực bến xe thuộc phường T, tỉnh Nghệ An đã bán ma túy cho bị cáo, do còn thiếu thông tin nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 228 Bộ luật dân sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gói thiếc màu vàng không rõ hình, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục là H, khối lượng 0,05 gam, đã lấy 0,02 gam để giám định, còn lại 0,03 gam. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K, màu đen, số Imei 1 861063057426013, Imei 2 861063057426005, sim số 0896320122 và 0947292480. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đen xám, biển kiểm soát 37Z9-8404, số khung RLHJF2706BY165916, số máy JF27E-105681 đã qua sử dụng sau 01 năm kể từ ngày Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H ra thông báo (ngày 24/9/2025) nếu không ai đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành làm thủ tục nhận lại xe theo quy định thì tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo Trần Văn D thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 228 Bộ luật Dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/9/2025).

4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 gói thiếc màu vàng không rõ hình, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục là H, khối lượng 0,05 gam, đã lấy 0,02 gam để giám định, còn lại 0,03 gam.
  • Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K, màu đen, số Imei 1 861063057426013, Imei 2 861063057426005, sim số 0896320122 và 0947292480.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đen xám, biển kiểm soát 37Z9-8404, số khung RLHJF2706BY165916, số máy JF27E-105681 đã qua sử dụng sau 01 năm kể từ ngày Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H ra thông báo (ngày 24/9/2025) nếu không ai đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành làm thủ tục nhận lại xe theo quy định thì tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.

Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 31/10/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H và Phòng THADS Khu vực 3-Hà Tĩnh.

5. Về án phí: Bị cáo Trần Văn D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND KV3 - Hà Tĩnh;
  • - CQĐT, CQTHAHS CA tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - THADS KV3 - Hà Tĩnh;
  • - Công an xã Nghi Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Hạnh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

Dương Văn Nhạ

Võ Quốc Linh

Lê Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH về sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Dũng - Sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger