Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày: 26-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

Thẩm phán: Ông Trần Mạnh Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Tri

Bà Phan Thị Thanh Sen

Ông Nguyễn Công Thành–Cán bộ Tỉnh đoàn Quảng Nam;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Trang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Phước A, sinh ngày 12/12/1978 tại H, tỉnh Quảng Nam; Nơi thường trú và chỗ ở: khối phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam; Tên gọi khác: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: thợ cắt tóc; Con ông: Nguyễn Xuân A1 (sinh năm: 1951, đã chết) và bà Trần Thị H (sinh năm: 1954); Nghề nghiệp: làm nông, trú tại: khối phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam; gia đình có 04 người con, bị cáo là con đầu; Vợ: Lê Thị Ngọc B (sinh năm: 1980), nghề nghiệp: thợ may; Có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2011;

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phước A: Luật sư Đoàn Văn M– Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; Địa chỉ: Tổ C, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam (có mặt).

Bị hại: Cháu Phạm Nguyễn Gia N, sinh ngày 23/12/2019 tại huyện H, tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khối phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1988 và bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1993; Cùng trú tại: khối phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam (cả hai đều có mặt).

- Người bảo vệ quyền lời và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Ngô Thị D – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; Địa chỉ: G P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Trần Linh Đ (tên gọi khác: Ti Na), sinh ngày 19/10/2019 tại huyện H, tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khối phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Đ: Ông Trần T2, sinh năm 1985 và bà Bùi Thị Mỹ L, sinh năm 1985; trú tại: khối phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam ( xin vắng mặt).

Người làm chứng: Cháu Nguyễn Bảo N4, sinh ngày 8/02/2018 và cháu Phạm Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 24/11/219; cùng trú tại: khối phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu N4: Bà Võ Thị N2, sinh năm 1965; trú tại: khối phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 29/10/2024, Nguyễn Phước A nhậu cùng với Phạm Phú H1 (tên gọi khác là H2, sinh năm: 1984, trú tại: khối phố A, thị trấn T, huyện H) và Hoàng Văn C (sinh năm: 1989, trú tại: Thôn C, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An) tại nhà của A. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì nhậu xong. Khoảng 18 giờ 00 phút, Anh đi bộ qua nhà ông Phan Phụng C1 (sinh năm: 1968, trú tại: khối phố B, thị trấn T, huyện H) để mượn xe rùa về sử dụng. Khi ra trước nhà, Anh thấy cháu Phạm Nguyễn Gia N (sinh ngày: 23/12/2019 con anh Phạm Văn T, hàng xóm của A) đang chơi chỗ gốc cây xoài phía trước nhà A, phía bên kia đường có các cháu Trần Linh Đ (tên gọi khác là Ti N3, sinh ngày: 19/10/2019), Phạm Nguyễn Bảo N4 (tên gọi khác là K, sinh ngày: 08/02/2018), Phạm Nguyễn Bảo N1 (tên gọi khác là R, sinh ngày: 24/11/2019) đang chơi tại đường bê tông trước trường mầm non M1 thuộc khối phố B, thị trấn T, huyện H. Lúc này, cháu N gọi "bác A, bác A". Anh đi lại bồng cháu N qua đường và rủ các cháu nhỏ khác đang chơi tại đây cùng chơi trốn tìm thì tất cả đồng ý.

Tại phiên chơi lần đầu, cháu N4 là người đi tìm còn tất cả trốn. Anh bồng cháu N trước ngực, tay phải vòng qua ôm ngang trước ngực cháu N, tay trái đỡ mông cháu N. Anh đi theo đường bê tông về hướng cổng trường mầm non M1 để trốn. Do đã uống rượu, khi bồng cháu N, Anh thấy trong người kích thích, hưng phấn tình dục nên đã dùng ngón giữa tay trái xoa, sờ qua lại hai bên, kéo ngón giữa từ dưới lên trên ở bên ngoài quần, ngay âm hộ của cháu N. Khi đến sau trụ cổng bên phải (hướng từ ngoài vào) trường mầm non thì Anh đặt cháu N đứng trước mặt và không sờ âm hộ của cháu N nữa. Cháu N1 và cháu Đ cũng chạy vào trốn ở sau trụ cổng (cổng nhỏ) bên trái (hướng từ ngoài đi vào) trường mầm non.

Vừa trốn xong thì tất cả bị cháu N4 tìm thấy nên đi bộ ra lại khu vực bắt đầu trò chơi. Một lúc sau, Anh và các cháu nhỏ bắt đầu chơi trốn tìm lần hai.

Tại phiên chơi lần hai, cháu N4 vẫn là người đi tìm, Anh tiếp tục bồng cháu N đi trốn cùng với cháu N1 và cháu Đ ở vị trí như lần đầu. Sau khi đặt N xuống sau trụ cổng bên phải (hướng từ ngoài vào) trường mầm non. Anh ngồi xổm trong tư thế quay mặt ra trước cổng, cháu N đứng phía trước mặt A, mông cháu N dựa vào đầu gối chân phải của A, mặt quay về phía cổng. Anh dùng tay trái kéo váy của cháu N lên ngang rốn, dùng tay phải giữ váy rồi tiếp tục dùng tay trái kéo quần lót của cháu N xuống ngang gối. Anh dùng ngón giữa tay trái xoa, sờ trực tiếp vào âm hộ của cháu N trong thời gian khoảng 05 giây. Lúc này cháu N thấy đau nên né người tránh tay Anh, kêu lên một tiếng nhưng Anh đưa tay phải lên bịt miệng cháu N lại. Anh tiếp tục dùng ngón giữa tay trái xoa, chọc vào ở giữa âm hộ cháu N và di chuyển (kéo) ngón giữa tay trái lên xuống liên tục ở khe phần âm hộ của cháu N nhiều lần thêm khoảng 10 đến 15 giây. Lúc này anh Phạm Văn T (ba của N) gọi cháu N về nên cháu N đẩy tay A ra thì Anh dừng lại và nói "ba kêu con, đi về đi không chơi nữa". Cháu N ra về.

Chiều tối cùng ngày, khi anh T tắm cho cháu N, trong lúc đi tiểu cháu N cảm thấy đau nên nói với anh Túc. Anh Túc hỏi “sao con đau” thì N kể lại cho anh Túc nghe sự việc mình bị Anh xâm hại nên anh Túc làm đơn báo cáo gửi đến Công an.

+ Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 687/KLXHTDTE-TTPY ngày 04/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận: tình trạng âm hộ viêm đỏ tiểu đau (theo ghi nhận trong sổ khám bệnh của Phòng khám Đ1) hiện tại kiểm tra không thấy dấu vết gì. Màng trinh còn nguyên vẹn, không thấy rách. Gia đình có đơn không đồng ý lấy dịch để xét nghiệm tìm xác tinh trùng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Phước A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) cái váy bằng vải màu tím, có hoa văn màu trắng; 01 (một) cái quần chíp (quần lót) bằng vải, màu vàng, có phối màu xanh và cam ở mặt trước của Phạm Nguyễn Gia N.
  • - 01 (một) cái quần chíp (quần đùi lót) bằng vải, màu xanh; 01 (một) cái áo thun bằng vải, màu xanh, mặt trước có hình ngôi sao của cháu Trần Linh Đ.
  • - 01 (một) cái quần đùi bằng vải màu xanh đen, có kẻ sọc màu xanh; 01 (một) cái quần Jean ống dài, màu xanh; 01 (một) cái áo thun bằng vải, có cổ, màu đen trắng của Nguyễn Phước A.

Cáo trạng số 45/CT-VKSQN-P2 ngày 22/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo, về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước A phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; áp dụng điểm c khoản 3 Điều 142; các điểm b, s

khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Phước A từ 15 năm đến 16 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường xong.

-Về vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phước A với luận cứ: Thống nhất luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, điểm, khoản áp dụng và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh gia đình bị cáo thì thấy, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bà nội là Mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ ruột được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì và hai chú ruột là Liệt sĩ (khoản 2 Điều 51 BLHS). Từ những lý do nói trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất dưới khung hình phạt liền kề, nhẹ hơn mức Viện kiểm sát đã đề nghị, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại với luận cứ: Thống nhất luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khoản, điều luật áp dụng đối với các bị cáo. Bị cáo đã lợi dụng sự quen biết và việc bị hại còn quá nhỏ (mới 4 tuổi 10 tháng) không thể tự bảo vệ bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi xâm hại tình dục với trẻ em. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn đi ngược lại chuẩn mực đạo đức của xã hội, làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển bình thường của bị hại, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tại phiên tòa, gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận, xin lỗi gia đình bị hại về hành vi do bị cáo gây ra và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của

bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng của, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Qua tranh tụng tại phiên tòa, xét lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại; Kết luận giám định Pháp y về tình dục, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra chứng minh trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 29/10/2024, tại cổng trường mầm non M1 thuộc khối phố B, thị trấn T, huyện H, lợi dụng sự quen biết và việc cháu Phạm Nguyễn Gia N còn quá nhỏ (mới 4 tuổi 10 tháng) không thể tự bảo vệ được bản thân, Nguyễn Phước A đã thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với cháu N bằng cách dùng ngón giữa tay trái xoa xung quanh, chọc vào giữa âm hộ cháu N và di chuyển (kéo) ngón giữa tay trái lên xuống liên tục ở khe phần âm hộ của cháu N nhiều lần thêm khoảng 10 đến 15 giây nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục. Với hành vi và hậu quả nêu trên của bị cáo Nguyễn Phước A đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, với tình tiết định khung “Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, thấy rằng:

Sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người và quyền bất khả xâm phạm về thân thể là những quyền cơ bản, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, nhất là đối với trẻ em. Bị cáo Nguyễn Phước A có đầy đủ năng lực để nhận thức được điều này nhưng với dục vọng thấp hèn, bị cáo đã bất chấp pháp luật, bất chấp hậu quả xấu có thể xảy ra, để thực hiện hành vi xâm hại tình dục. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị hại Phạm Nguyễn Gia N dưới 10 tuổi (4 tuổi 10 tháng). Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại tình dục đối với trẻ em, trái đạo đức xã hội và làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển tâm sinh lý của bị hại. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhằm ren đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình; gia đình bị cáo có người thân tham gia cách mạng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng liền kề, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) cái váy bằng vải màu tím, có hoa văn màu trắng; 01 (một) cái quần chíp (quần lót) bằng vải, màu vàng, có phối màu xanh và cam ở mặt trước của Phạm Nguyễn Gia N.
  • - 01 (một) cái quần chíp (quần đùi lót) bằng vải, màu xanh; 01 (một) cái áo thun bằng vải, màu xanh, mặt trước có hình ngôi sao của cháu Trần Linh Đ.
  • - 01 (một) cái quần đùi bằng vải màu xanh đen, có kẻ sọc màu xanh; 01 (một) cái quần Jean ống dài, màu xanh; 01 (một) cái áo thun bằng vải, có cổ, màu đen trắng của Nguyễn Phước A.

Xét thấy, các vật chứng này được thu giữ trong lúc bị cáo thực hiện hành phạm tội và có liên quan đến vụ án, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phước A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước A, phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước A 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/12/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy:

  • - 01 (một) cái váy bằng vải màu tím, có hoa văn màu trắng; 01 (một) cái quần chíp (quần lót) bằng vải, màu vàng, có phối màu xanh và cam ở mặt trước của Phạm Nguyễn Gia N.
  • - 01 (một) cái quần chíp (quần đùi lót) bằng vải, màu xanh; 01 (một) cái áo thun bằng vải, màu xanh, mặt trước có hình ngôi sao của cháu Trần Linh Đ.
  • - 01 (một) cái quần đùi bằng vải màu xanh đen, có kẻ sọc màu xanh; 01 (một) cái quần Jean ống dài, màu xanh; 01 (một) cái áo thun bằng vải, có cổ, màu đen trắng của Nguyễn Phước A.

(Vật chứng này hiện được lưu giữ, quản lý tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 5 năm 2025).

3. Án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Phước A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn gửi lên tòa án cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKS; Công an tỉnh Q. Nam;
  • - VKS Cấp cao tại ĐN;
  • - Phòng PV 06 CA Q.Nam;
  • - Người tham gia TT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Nam;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về hiếp dâm người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 15 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger