|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày: 24 - 6 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Phúc Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đức Binh
- Ông Lưu Trọng Kim
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tô Văn Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2025/TLST - HS, ngày 27 tháng 5 năm 2025, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
- Bị cáo Lê Văn H, sinh năm 1993, tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ I, thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: Nông. Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam;
- Bị cáo Phạm D, sinh năm 1991, tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, tên gọi khác: D chùi hồ; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ I, thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
- Bị hại: Ông Lê H2, sinh năm: 1964. Nơi cư trú: Tổ A, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Con ông Lê Anh T, sinh năm 1965 và con bà Tô Thị Ánh N, sinh năm 1969. Cư trú tại: tổ I, thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 02 anh em, Lê Văn H là con lớn trong gia đình; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm: 1998. có 02 con: sinh năm 2021 và 2024, hiện cư trú tại: Tổ I, thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nhân thân: Năm 2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh tuyên phạt 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng, chấp hành xong bản án vào tháng 03/2024.
Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 87/2025/HSST-LCCCT, ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
Con ông Phạm Tấn H1, sinh năm 1967. Hiện cư trú tại: Xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, con bà Lê Thị Kim C đã chết. Gia đình có 03 anh em, Phạm D là con lớn nhất trong gia đình; Bị cáo không có vợ, có 01 con là Phạm Lê H2, sinh năm 2014 hiện sống tại Thôn C, xã G, huyện T.
Tiền án: Không
Tiền sự: Bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 35/2024/QĐ-TA, ngày 10/7/2024 của TAND huyện Đức Linh, nhưng chưa chấp hành.
Bị cáo hiện đang được tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 88/2025/HSST-LCCCT, ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
Tại phiên tòa có mặt các bị cáo; vắng mặt bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 17/01/2025, Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận tổ chức Hội nghị, nên có mượn của Lê H2 (công chức của Ủy ban nhân dân xã Đ) 01 loa kéo hiệu Nanomax loại SK -12 x 1, 02 Micro và 01 dây sạc pin để tổ chức Hội nghị. Sau khi tổ chức xong hội nghị Ủy ban nhân dân xã Đ trả lại toàn bộ số tài sản trên cho Lê H2, Lê H2 gửi loa kéo, 02 Micro, 01 dây sạc pin tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Đ. Sáng ngày 19/01/2025 Lê H2 đến hội trường Ủy ban nhân dân xã Đ để lấy loa kéo, micro, dây sạc pin về thì phát hiện toàn bộ số tài sản trên bị mất nên báo Công an xã Đ.
Quá trình điều tra xác định: Rạng sáng ngày 19/01/2025, Lê Văn H, sinh năm 1993, trú thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đến nhà Phạm D, sinh năm 1991 cùng thôn rủ Phạm D đến y ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận trộm cắp tài sản, Phạm D đồng ý. Lê Văn H mang theo 01 mỏ lếch cùng Phạm D đến khu vực Ủy ban nhân dân xã Đ leo tường rào vào bên trong sân Ủy ban nhân dân xã Đ tìm tài sản để trộm cắp. Khi Phạm D và Lê Văn H đi qua hội trường Ủy ban nhân dân xã Đ thì thấy trong hội trường có 01 loa kéo, Phạm D sử dụng mỏ lếch mang theo bẻ gãy thanh kim loại cửa sổ hội trường rồi vào trong trộm 01 loa kéo hiệu NANOMAX loại SK - 12 x 1; 02 Micro; 01 dây sạc pin đưa ra ngoài sau đó đưa số tài sản trên về nhà Phạm D cất giấu. Qua trình điều tra xác minh Phạm Duy tự N1 giao nộp 01 loa kéo hiệu NANOMAX loại SK- 12 x 1, 02 micro, 01 dây sạc pin.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL - HĐĐGTS ngày 02/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận giá trị: 01 loa kéo hiệu NANOMAX loại SK 12 x 1; 02 Micro; 01 dây sạc pin tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.500.000 đồng (ba triệu, năm trăm ngàn đồng)
Tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Văn H được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự "Người phạm tội thành khẩn khai báo"; Bị cáo Phạm D có hai tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, "Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng", nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm i, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vật chứng thu giữ:
- 01 loa kéo hiệu NANOMAX loại SK- 12 x 1; 02 Micro; 01 dây sạc pin. Đã thu hồi trả lại cho bị hại.
- 01 khóa vặn ốc (mỏ lếch) bằng kim loại bên trên có dòng "chữ 8" - 200mm, là công cụ các bị can sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, giá trị không lớn, cần tịch thu tiêu hủy.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh sẽ ra Quyết định chuyển vật chứng trên đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh, quản lý, chờ xử lý.
Về dân sự: Tài sản các bị can chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Người bị hại không yêu cầu gì thêm.
Hành vi trên của Phạm D, Lê Văn H3 đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản" quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bồ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, giữ nguyên cáo trạng, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: "Người phạm tội thành khẩn khai báo"; Bị cáo Phạm D có hai tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, "Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Lê Văn H và Phạm Duy M bị cáo từ 9 tháng đến 01 năm tù.
Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 cái mỏ lếch các bị cáo dùng để phạm tội, là công cụ phạm tội của các bị cáo
Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về định tội; Về mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, các bị cáo xin được hưởng án treo. Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo mong muốn được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy đã đủ cơ sở kết luận: Vào rạng sáng ngày 19/01/2025, Lê Văn H, sinh năm 1993, trú thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đền nhà Phạm D, sinh năm 1991 cùng thôn rủ Phạm D đến Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận trộm cắp tài sản, Phạm D đồng ý. Lê Văn H mang theo 01 mỏ lếch cùng Phạm D đến khu vực Ủy ban nhân dân xã Đ leo tường rào vào bên trong sân Ủy ban nhân dân xã Đ tìm tài sản để trộm cắp. Khi Phạm D và Lê Văn H đi qua hội trường Ủy ban nhân dân xã Đ thì thấy trong hội trường có 01 loa kéo, Phạm D sử dụng mỏ lếch mang theo bẻ gãy thanh kim loại cửa sổ hội trường rồi vào trong trộm 01 loa kéo hiệu NANOMAX loại SK - 12 x 1; 02 Micro; 01 dây sạc pin đưa ra ngoài sau đó đưa số tài sản trên về nhà Phạm Duy C1 dấu. Qua trình điều tra xác minh Phạm Duy tự N1 giao nộp 01 loa kéo hiệu NANOMAX loại SK- 12 x 1, 02 micro, 01 dây sạc pin.
Xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là công dân mạnh khỏe, đã thành niên, có sức khỏe, có thể tự lao động kiếm tiền chân chính. Nhưng vì lười lao động mà thích có tiền tiêu xài, có tài sản để sử dụng mà nên đã bất chấp pháp luật, giữa đêm đã lén lút lấy tài sản của người khác về sử sụng hoặc bán tiêu xài cá nhân. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật nhà nước bảo vệ, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương, vi phạm chuẩn mực đạo đức và gây hoang mang trong một bộ phận nhân dân
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, về vai trò của các bị cáo, thấy rằng các bị cáo có vai trò nguy hiểm ngang nhau trong vụ án, bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị công cụ phạm tội, bị cáo D cũng tham gia tích cực, trong việc bẻ thanh cửa sổ ủy ban xã, lôi tài sản trộm cắp ra và mang về nhà mình cất giấu, còn đồng ý đưa lại tiền cho bị cáo H, vai trò các bị cáo là ngang nhau cần áp dụng hình phạt như nhau là phù hợp.
Tuy nhiên về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn H chỉ được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ đó là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, còn bị cáo D được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần xem xét mức hình phạt của bị cáo D thấp hơn hình phạt của bị cáo H.
Các bị cáo tại phiên tòa đều có mong muốn được hưởng án treo. Tuy nhiên HĐXX xét thấy nhân thân các bị cáo không tốt, nếu để các bị cáo ở địa phương thì không thuận lợi cho các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội. Cụ thể bị cáo H vào năm 2021 đã bị TAND huyện Đức Linh xử phạt 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo, tuy bị cáo đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn không ý thức pháp luật, không sửa chữa sai lầm mà bị cáo lại tiếp tục vị phạm pháp luật; Bị cáo D về tiền sự có 01 quyết định buộc đi cai nghiện bắt buộc nhưng chưa thực hiện. Do đó cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo rèn luyện, sữa chữa bản thân để trở thành người tốt.
Vì vậy đề nghị của kiểm sát viên về hình phạt của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các phân tích như trên.
[5] Về Vật chứng và dân sự: 01 loa kéo hiệu NANOMAX loại SK- 12 x 1; 02 Micro; 01 dây sạc pin. Đã thu hồi trả lại cho bị hại. Bị hại không yêu cầu nên không cần xem xét.
- 01 khóa vặn ốc (mỏ lếch) bằng kim loại bên trên có dòng "chữ 8" - 200mm, là công cụ các bị can sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, giá trị không lớn, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về hình phạt:
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 khóa vặn ốc (mỏ lếch) dài 20cm, bằng kim loại bên trên có dòng "chữ 8" - 200mm, theo biên bản chuyển vật chứng ngày 20/6/2025.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm D và Lê văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/6/2025) người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Tuyên bố: Lê Văn H và Phạm D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Lê Văn H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Phạm D 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
Buộc bị cáo Phạm D và Lê Văn H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, án phí nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Phúc Thị Thu Hà |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÊ VĂN H, PHẠM D PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
