Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LAI CHÂU

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày 27 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Nga

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Quang Vinh

Ông Lò Văn Sung

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Quyên- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên toà: bà Bùi Thị Tính, Kiểm sát viên.

Ngày 27/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Tẩn A Ỏ; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 28/8/1998, tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Tẩn A N, sinh năm 1981 và bà Lý Thị S, đã chết; Vợ, con: Chưa có; Bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền sự: không; Tiền án: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 cho đến nay. Hiện đang bị giam tại Cơ sở quản lý tạm giữ, tạm giam khu vực thành phố thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Buổi sáng ngày 23/12/2024, Tẩn A đi xe khách từ tỉnh Hải Dương về đến thành phố L, tỉnh Lai Châu nhưng chưa có xe khách để về nhà tại bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu nên Ỏ một mình đi bộ lang thang tại khu vực phường Đ, thành phố L chơi để chờ xe. Khi Ỏ đi bộ đến khu vực gần nhà nghỉ N2 thuộc tổ B, phường Đ, thành phố L thì gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch, nhìn giống người nghiện ma tuý nên Ỏ đã hỏi mua ma tuý của người này để sử dụng. Qua trao đổi mua bán, Ỏ mua được của người đàn ông nói trên 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen với giá 200.000 đồng (gói Heroine được cất giấu trong một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng). Mua bán xong, Ỏ cất giấu vỏ bao thuốc lá có chứa gói Heroine nói trên vào trong túi xách màu nâu xám, nhãn hiệu Carrvnkenir của Ỏ rồi đi bộ tìm chỗ sử để dụng ma tuý. Hồi 10 giờ 00 phút cùng ngày, khi Ỏ đang đi bộ trên đường N thuộc tổ B, phường Đ, thành phố L thì bị tổ công tác Công an phường Q phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói Heroine Ỏn đang tàng trữ để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 60/KLGĐ ngày 23/12/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 73/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn A trong quá trình bắt quả tang ngày 23/12/2024 có khối lượng là 0,14 gam; 01 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine.

Cáo trạng số 13/CT-VKSTP ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đã truy tố Tẩn A Ỏ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tẩn A Ỏ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tẩn A Ỏ từ 13 tháng đến 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2024.

- Hình phạt bổ sung: đề nghị hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự;

- Về xử lý vật chứng: Đối với 0,14 gam Heroine đã gửi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật, nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Vật chứng còn lại, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy: một hộp bìa cát tông hình hộp chữ nhật màu nâu, xung quanh hộp bìa được dán kín bên trong gồm: 01 mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng, 01 túi xách màu nâu xám, nhãn hiệu Carrvnkenir; 01 hộp bìa niêm phong vật chứng ban đầu.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, đề nghị miễn tiền án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Tẩn A Ỏ không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu.

Tại lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình, bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà, có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, tại tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu, Tẩn A Ỏ đang tàng trữ trái phép 0,14 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Q phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo T A Ỏ là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tư lợi của bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo T A Ỏ có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: [...]

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [...]

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo là người sử dụng ma túy, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng đối với bị cáo; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử cần quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 0,14 gam Heroine Cơ quan cảnh sát điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Đối với một hộp bìa cát tông hình hộp chữ nhật màu nâu, xung quanh hộp bìa được dán kín (Theo hồ sơ bên trong là 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng; 01 hộp bìa niêm phong vật chứng ban đầu; 01 túi xách màu nâu xám, nhãn hiệu Carrvnkenir; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen). Xét thấy, vật chứng trên là công cụ phạm tội, là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Các vấn đề khác: Theo lời khai của bị cáo Tẩn A Ỏ, nguồn gốc 0,14 gam Heroine bị thu giữ là mua của một người đàn ông bị cáo gặp tại khu vực gần nhà nghỉ N2 thuộc tổ B, phường Đ, thành phố L. Tuy nhiên, do bị cáo Ỏ không biết nhân thân lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí cho bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

[1] Tuyên bố bị cáo Tẩn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuỷ”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn A Ỏ 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2024.

[3] Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy đối với một hộp bìa cát tông hình hộp chữ nhật màu nâu, xung quanh hộp bìa được dán kín (Theo hồ sơ bên trong là 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng; 01 hộp bìa niêm phong vật chứng ban đầu; 01 túi xách màu nâu xám, nhãn hiệu Carrvnkenir; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen).

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 16 giờ 30 phút ngày 24/02/2025 giữa Công an thành phố L, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu).

[4] Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ sở quản lý tạm giữ, tạm giam khu vực
  • thành phố thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh
  • Lai Châu;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND thành phố Lai Châu;
  • - Chi cục THADS thành phố Lai Châu;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Tẩn A Ỏ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy:" theo quy định tại điểm C khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger