TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày: 19-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Minh Đầy;
- Bà Nguyễn Thùy Trang.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hiếu Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HSST, ngày 06 tháng 5 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Văn T, tên gọi khác: Sơn Âm trì; sinh ngày 01/01/1987, tại tỉnh Đ; Nơi cư trú: khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Võ Văn Bé H và bà: Nguyễn Thị L; vợ: Biện Thị H1 (đã ly hôn); Con: 01 đứa; Tiền sự: không có; Tiền án: 02 lần: Lần 1 ngày 14/11/2014 bị Toà án nhân dân thành phố R, tỉnh K xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2019 (chưa xoá án tích do chưa bồi thường phần dân sự), lần 2 ngày 30/10/2023, bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Đ xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2024 (chưa xoá án tích); nhân thân: Ngày 06/3/2020, bị Toà án nhân dân huyện C xử đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/02/2025.
Bị cáo có mặt tại phiên toà,
- Người bị hại: Huỳnh Bá T1, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đ. (có mặt).
- Người làm chứng:
- Lê Văn N, sinh năm 1952 (vắng mặt);
- Lưu Hoàng H2, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Cùng cư trú: Khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn T là người có tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, sau khi chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2024, T tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/01/2025 T chạy xe mô tô ngang nhà anh Huỳnh Bá T1 thuộc khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đ thì phát hiện ở thềm ba nhà anh T1 có để 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A11 nên T lấy bỏ vào túi quần rồi chạy xe đi. Sau đó, anh T1 trở về nhà phát hiện bị mất điện thoại, do trên đường trở về nhà thấy T trong nhà mình chạy ra nên anh T1 chạy xe tìm T thì T thừa nhận lấy điện thoại của anh T1. T yêu cầu anh T1 đưa 100.000đ để chuộc điện thoại và sim. Sau khi nhận lại điện thoại, anh T1 đến Công an thị trấn C trình báo sự việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận điện thoại và sim của anh T1 bị Võ Văn T lấy trộm có giá trị là 1.250.000đ.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS, ngày 23/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, đã truy tố Võ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Võ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản".
Bị hại Huỳnh Bá T1 trình bày: Anh mất 01 điện thoại hiệu S A11, phát hiện mất nghi ngờ T lấy nên hỏi T thì T thừa nhận và đưa T 100.000đ chuộc điện thoại và sim, anh không yêu cầu gì.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố đúng như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bị cáo Võ Văn T là người có tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, ngày 08/01/2025 bị cáo T tiếp tục lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11 (bên trong có sim) của anh Huỳnh Bá T1 trị giá 1.250.000đ tại khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đ thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo Võ Văn T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của anh Huỳnh Bá T1 một cách trái pháp luật, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở địa phương, bị cáo đã có tiền án về tội trộm nên cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội. Hành vi của bị cáo nhằm mục đích vụ lợi cá nhân, khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt Võ Văn T từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự bị hại anh Huỳnh Bá T1 đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu T bồi thường nên không đề nghị xử lý. Về xử lý vật chứng: không có. Bị cáo Võ Văn T thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, không tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện C trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Võ Văn T đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, không người trông coi tài sản đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11 (bên trong có sim) của anh Huỳnh Bá T1 trị giá 1.250.000đ, nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ, bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, cho nên hành vi của bị cáo Võ Văn T có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” phạm vào khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
[3] Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn T là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, xâm phạm tài sản của người khác một cách trái phép, tài sản của công dân là khách thể được luật hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến, thế nhưng vì ý thức xem thường pháp luật và không tôn trọng tài sản của người khác mà bị cáo phạm tội, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử đồng ý quan điểm của Kiểm sát viên.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Bá T1 đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu bị cáo T bồi thường nên không xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: không có
[7] Về án phí: Bị cáo Võ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Văn T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Võ Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án Nhân dân Tỉnh Đ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo T 01 (Một) năm tù
