|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày: 15-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Trúc Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Bích Lệ và ông Tạ Văn Việt.
Thư ký phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 11/3/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/HSST-QĐ ngày 26/3/2025; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 15/TB-TA ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình đối với các bị cáo:
1. Dụng Thị C, sinh ngày 02/6/1959 tại tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà N. Giới tính: Nữ. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Hưu trí.
Tiền án, tiền sự: Không
Con ông Dụng Y, sinh năm 1928 và bà Thổ Thị C1, sinh năm 1937.
Anh, chị, em ruột: Có 07 người. Bị can là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 1980; Chồng: Miêu Văn T, sinh năm 1955 (đã chết); Con: 01 người, sinh năm 1993.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2. Đa Nữ Tuấn K, sinh ngày 07/02/1983 tại tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Thôn Bình Thắng, xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà N. Giới tính: Nữ. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Buôn bán.
Tiền án, tiền sự: Không
Con ông Đa Tấn L, sinh năm 1963 và bà Dụng Thị N1, sinh năm 1965; Anh, chị, em ruột: Có 05 người. Bị can là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 1991; Chồng: Tần Lực Không; sinh năm 1982; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- + Nguyễn Thị Diễm T1, sinh năm 1983 (có mặt);
- + Nguyễn Nữ Thái T2, sinh năm 1978 (vắng mặt);
- + Dụng Thị N2, sinh năm 1976 (có mặt);
- + Thanh Thị Ngọc M, sinh năm 1979 (có mặt);
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 31/10/2024, bị cáo Đa Nữ Tuấn K đi ngang qua nhà bà Nguyễn Thị Diễm T1 (sinh năm 1983; cư trú: thôn B, xã P, huyện B - là giáo viên mầm non của trường M1 thuộc thôn B, xã P, huyện B). Do có mâu thuẫn từ trước giữa hai gia đình nên khi thấy bị cáo K đi qua thì bà T1 chửi “xạo, cướp chồng người ta, đồ đổ nợ”, nghe vậy thì bị cáo K đi vào nhà của bà Dụng Thị N1 – là mẹ ruột của K kể lại sự việc bị T1 chửi. Khi nghe K kể lại sự việc thì bà N1 đi ra đứng trước đường đối diện nhà bà T1 để hỏi bà T1 lý do vì sao chửi K thì bà T1 bỏ đi vô nhà. Lúc này, có một số người trong nhà của bà T1 đi ra chửi gia đình K, đòi đào mồ cốt mã gia đình K. Thấy bị chửi nên K đi đến Công an xã P gặp ông Phan Xuân T3 – là Trưởng Công an xã P sự việc bị bà T1 chửi bới thì ông T3 phân công cho ông Bá Đình S – là Công an viên xã P; ông Mai Kim T4 – là Trưởng thôn B và ông Nguyễn Minh C2 – là Tổ An ninh trật tự đến nhà bà T1 để giải quyết. Sau khi Bá Đình S, Mai Kim T4, Nguyễn Minh C2 đến nhà bà T1 thấy sự việc chỉ có lời qua tiếng lại, không có hậu quả gì nên đi về.
Đến khoảng 07 giờ 45 phút ngày 01/11/2024, Đa Nữ T do bức xúc việc bị bà T1 chửi nên đến nói chuyện với bị cáo Dụng Thị C về sự việc trên. Sau khi nghe xong bị cáo Dụng Thị C bảo bị cáo K cùng đi đến Trường M1 thuộc thôn B, xã P tìm bà Nguyễn Thị Diễm T1 hỏi rõ sự việc vì sao đòi đào mồ cốt mã người đã chết, nghe bị cáo Dụng Thị C nói vậy thì K đồng ý đi cùng. Sau đó, K điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiểm soát, bà K không nhớ là xe của ai) chở bị cáo Dụng Thị C đến Trường M1. Khi đến trước cổng trường K dừng xe mô tô phía trước cổng trường rồi cả hai đi vào trường tìm bà T1. Tại thời điểm này nhà trường đang tổ chức cho học sinh học môn thể dục buổi sáng phía trước sân trường. Khi K và C đi vào sân trường thì thấy bà T1 đang cho học sinh học thể dục nên K và C đi đến chỗ bà T1 rồi K dùng tay chỉ thẳng vào mặt bà T1 chửi: “Cô giáo mất dạy, đào mồ cốt mã người ta" “Cái này là chó chứ giáo viên gì”, “Con chó nè, cái này con chó nè” “Đại ca chứ giáo viên gì". Bị cáo C thấy vậy thì cũng chửi theo: "Mày là con chó sói ăn người “Chửi từ người sống cho tới người chết", đồng thời K và C tiến tới chỗ bà T1 thì bị bà Nguyễn Nữ Thái T2 (sinh năm 1978, cư trú tại: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận- là Giáo viên nhà trường) ngăn lại không cho đến chỗ bà T1. Tuy được bà T2 can ngăn, giải thích nhưng K và C vẫn tiếp tục chửi bới gây ồn ào, náo động trong trường làm cho Nhà trường phải ngưng các hoạt động để các giáo viên trong trường tập trung ra can ngăn mời K và C ra khỏi trường. Khi K và C được các giáo viên trong trường ngăn cản và mời ra khỏi cổng trường thì K lấy ra 02 tấm ảnh bên trong có hình ảnh của hai nạn nhân bị đánh rồi tiếp tục chửi “Giáo viên đánh người nè, giáo viên đánh người nè ", rồi cầm 02 tấm hình đi vòng qua vòng lại trước cổng trường mục đích để cho người xung quanh xem. Sự việc xảy ra làm cho người dân hiếu kỳ tập trung lại trước cổng trường để xem rất đông gây tình hình mất an ninh trật tự trước cổng trường.
Cùng thời điểm xảy ra sự việc nói trên tại hội trường thôn B, xã P, Ban điều hành thôn đang tổ chức cuộc họp để triển khai ngày Đại đoàn kết dân tộc, khi nghe tin sự việc K và C đến gây rối tại Trường M1 thì phải dừng cuộc họp để đi đến T3 mẫu giáo Phan Rí T5 cùng với Công an xã P vận động, giải thích ngăn cản K và C gây rối tại trường. Đến khoảng 08 giờ 40 thì K và C đi về. Sau đó thì T3 mẫu giáo tiếp tục hoạt động trở lại bình thường.
Đối với bà Dụng Thị N2 (sinh năm 1976) và bà Thanh Thị Ngọc M (sinh năm 1979), cùng trú tại thôn B, xã P, huyện B, sau khi thấy K chở C đi thì khoảng 05 phút sau bà N2 điều khiển xe mô tô chở theo bà M cùng đi đến Trường M1 là xem sự việc như thế nào. Khi đến trước cổng trường thấy K và C đang chửi bà T1 thì bà N2 có nói theo “chị tôi mới chết sao đào mồ cốt mã chị tôi lên”. Nói xong thì bà N2 và bà M cùng với mọi người đến can ngăn K và C đi về. Sau đó thì bà N2 và bà M cùng đi về với K và C.
Ngày 02/11/2024, Chủ tịch UBND xã P có Công văn số 172/UBND báo cáo sự việc nhóm K đến gây rối làm đình trệ hoạt động của T3 mẫu giáo Phan Rí T5 và làm đình trệ hoạt động của Ban điều hành thôn B, xã P trong khoảng thời gian hơn 45 phút.
Ngày 04/11/2024, Hiệu trưởng Trường M1 có Công văn số 158/BC-MGPRT báo cáo sự việc nhóm K đến gây rối làm ảnh hưởng xấu đến uy tín nhà trường, gây hoang mang đến tâm lý phụ huynh và học sinh; gây đình trệ hoạt động nhà trường trong khoảng thời gian hơn 45 phút.
Sau khi sự việc xảy ra, Công an xã P chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Về tang, vật chứng của vụ án: Ngày 01/11/2024, Cơ quan điều tra tạm giữ 07 đoạn video ghi lại toàn bộ nội dung diễn biến sự việc Dụng Thị C và Đa Nữ Tuấn K đến Trường M1 có hành vi gây rối được sao chép vào 01 USB (đã niêm phong) được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, phía nhà Trường mẫu giáo Phan Rí T5 bị thiệt hại không lớn nên không yêu cầu bị cáo Dụng Thị C và Đa Nữ Tuấn K bồi thường gì, cam đoan không khiếu nại hay thắc mắc gì đối với vụ việc nên không xem xét, giải quyết.
Tại Bản Cáo trạng số 19/CT-VKSBB ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố các bị cáo Dụng Thị C và Đa Nữ Tuấn K, về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biều:
- + Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Dụng Thị C và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 318; điểm h, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Dụng Thị C từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách 30 tháng 36 tháng về tội: “Gây rối trật tự công cộng".
- + Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đa Nữ Tuấn K và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 318; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Đa N3 Tuấn Kiều từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách 36 tháng 48 tháng về tội: “Gây rối trật tự công cộng".
- - Các bị cáo Dụng Thị C, Đa Nữ T: Thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì tranh luận. Các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người làm chứng Nguyễn Nữ Thái T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tại phiên tòa các bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt người làm chứng. Xét thấy đã có lời khai của những người làm chứng trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Dụng Thị C, Đa Nữ T vì mâu thuẫn từ trước của hai bên gia đình nên đã cùng nhau đến Trường M1 và có hành vi la lối, chửi bới bà Nguyễn Thị Diễm T1 là giáo viên của nhà trường gây mất trật tự, trì trệ hoạt động bình thường của Trường M1 trong khoảng thời gian hơn 45 phút và làm ảnh hưởng đến cuộc họp của Ban điều hành thôn B đang họp tại thời điểm đó, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, bị cáo Dụng Thị C và Đa Nữ Tuấn K cùng thống nhất ý chí và cùng nhau đến Trường Mẫu giáo Phan Rí T5 để gây rối trật tự công cộng nên cùng phải chịu trách nhiệm chung đối với hành vi và hậu quả gây ra.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố các bị cáo Dụng Thị C, Đa Nữ Tuấn K về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Dụng Thị C, Đa Nữ T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với bị cáo Dụng Thị C, trong quá trình công tác tại UBND xã N đã có nhiều thành tích xuất sắc, được HĐND tỉnh Ninh Thuận tặng bằng khen, được Ủy ban trung ương mặt trận T6 tặng huy chương vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
[5] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm và vai trò tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, gây trì trệ hoạt động bình thường của Trường M1 trong khoảng thời gian hơn 45 phút và làm ảnh hưởng đến cuộc họp của Ban điều hành thôn B đang họp tại thời điểm đó.
Bị cáo Dụng Thị C và bị cáo Đa Nữ Tuấn K cùng có hành vi gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, theo bị cáo Đa Nữ Tuấn K, trước khi đi đến Trường M1, thì bị cáo Đa Nữ Tuấn K có kể lại sự việc bà Nguyễn Thị Diễm T1 có những lời lẽ xúc phạm bị cáo Đa Nữ Tuấn K và gia đình bị cáo K cho bị cáo Dụng Thị C nghe. Sau khi nghe, bị cáo Dụng Thị C bảo bị cáo K là phải đến gặp bà Nguyễn Thị Diễm T1 để nói chuyện, nên bị cáo Đa Nữ Tuấn K và bị cáo Dụng Thị C cùng đi. Mặc dù bị cáo C không trực tiếp nghe bà Nguyễn Thị Diễm T1 nói gì nhưng bị cáo C lại bảo bị cáo K là phải đến Trường M1 để gặp bà Nguyễn Thị Diễm T1 nói chuyện. Và ngay sau đó, các bị cáo đã có hành vi gây rối tại Trường M1. Bị cáo Dụng Thị C là người có uy tín và là người có trình độ, có khả năng nhận thức cao; lẽ ra, bị cáo Dụng Thị C phải có cách xử sự khác, nhưng chính bị cáo lại là người xúi dục bị cáo Đa Nữ Tuấn K cùng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy, trong vụ án này, bị cáo Dụng Thị C là người có vai trò chính tác động bị cáo Đa Nữ T cùng thực hiện hành vi phạm tội. Và vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo.
[6] Về quyết định hình phạt: Như nhận định ở trên, các bị cáo Đa Nữ T, Dụng Thị C có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để xét xử các bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Ngoài ra, sau khi phạm tội, các bị cáo luôn tỏ ra ăn năn hối cải và luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điều này chứng tỏ các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và có khả năng tự cải tạo được. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho các bị cáo được hưởng án treo, giao về cho chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ theo.
[7] Về án phí: Các bị cáo Dụng Thị C, Đa Nữ Tuấn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
* Căn cứ vào:
Điểm c khoản 2 Điều 318; điểm h, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
-
1. Tuyên bố:
Bị cáo Dụng Thị C phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
-
2. Xử phạt:
Bị cáo Dụng Thị C 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách 03 năm 04 tháng tính từ ngày tuyên án
-
* Căn cứ vào:
Điểm c khoản 2 Điều 318; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
-
1. Tuyên bố:
Bị cáo Đa Nữ Tuấn K phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
-
2. Xử phạt:
Bị cáo Đa Nữ Tuấn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án
Giao bị cáo Dụng Thị C cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận và bị cáo Đa Nữ Tuấn K cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo Dụng Thị C, Đa Nữ T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Dụng Thị C, Đa Nữ Tuấn K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/5/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thanh Trúc Tuyền |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 15/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dụng Thị C và Đa Nữ T có hành vi la lối, chửi bới gây mất trật tự tại Trường Mầm Non M1 và nơi công cộng; gây đình trễ hoạt động bình thường của nhà trường trong suốt thời gian 45 phút và làm ảnh hưởng đến cuộc họp của Ban điều hành thôn B.
