|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày: 12 – 3 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thảo và ông Huỳnh Hoàng Thuận.
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hoài P, sinh năm 1995 tại tỉnh An Giang, số CCCD [...]. Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Văn H, sinh năm 1970 và bà Dương Thị B, sinh năm 1976. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 223/2017/HSST ngày 31/8/2017 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2024, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Cháu Nguyễn Phương P1, sinh ngày 01/10/2013; trú tại: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lưu Thị Tuyết L, sinh năm 1990; trú tại: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Phước L1 là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B, có đơn đề nghị vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Dương Thị B, sinh năm 1976; thường trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang; tạm trú: I khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Hoàng Lê P2 và ông Võ Minh T, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 20 phút, ngày 16/6/2024, bị cáo Trần Hoài P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario 125, màu sơn đỏ - đen, biển số 67K1-910.24 lưu thông trên đường B theo hướng từ ngã ba giao nhau giữa đường B và đường N đi ngã tư cây xăng S. Khi P đi đến đoạn đường thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì thấy cháu Nguyễn Phương P1, sinh ngày 2013 và cháu Nguyễn Thị Linh N (em ruột của P1), sinh năm 2017 đang đi bộ sát lề đường bên phải cùng chiều với P. Thấy trên tay phải của P1 đang cầm 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5s màu đen và 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, do đang cần tiền tiêu xài cá nhân nên P nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại và tờ tiền của P1. Để thực hiện ý định, P điều khiển xe mô tô đi vào lề đường và dừng xe bên lề đường phía trước P1 và giả vờ hỏi đường thì P1 trả lời không biết. Khi P1 đi đến, P dùng tay phải giật điện thoại và tờ tiền của P1 thì P1 giữ chặt điện thoại và tờ tiền bằng 02 tay nên P không giật được. Sau đó, P kéo tay P1 về phía P và lớn tiếng hăm doạ, yêu cầu P1 đưa điện thoại và tiền cho P nhưng P1 không đưa. Lúc này, P dùng tay trái đấm vào cổ tay phải của P1. Bị đánh đau, P1 buông lỏng điện thoại và tờ tiền ra thì P dùng tay phải giật lấy. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại và tờ tiền thì Phong cầm trên tay trái và dùng tay phải điều khiển xe bỏ chạy. Cùng lúc, ông Nguyễn Hoàng Lê P2 và ông Võ Minh T mỗi người điều khiển 01 xe mô tô đang lưu thông trên đường B, cùng chiều với P, thấy P1 tri hô “cướp, cướp, ..” và thấy P điều khiển xe bỏ chạy về phía mình thì ông T dùng chân đạp vào xe của P làm P và xe mô tô bị té ngã ra đường. Sau đó ông T và ông P2 cùng người dân khống chế P, giao cho Công an phường B lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Vụ việc được giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có số seri DP21484011;
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5s bị vỡ màn hình, đã bị hư hỏng, không sử dụng được;
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại: Vario, màu sơn đỏ - đen, số máy: JM51E1650090, số khung: MH1JM5114LK650479, biển số: 67K1-910.24;
- - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 081220 mang tên Trần Hoài P do Công an huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 15 tháng 10 năm 2020 đối với xe mô tô biển số 67K1-910.24 mang tên Trần Hoài P.
Kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐGTS ngày 19/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động cảm ứng màu đen nhãn hiệu Oppo A5s đã qua sử dụng có giá trị 800.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản bị cáo Trần Hoài P chiếm đoạt của cháu Nguyễn Phương P1 là 1.300.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 46/CT-VKS-TA ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trần Hoài P về tội Cướp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Hoài P mức hình phạt từ 08 năm tù đến 09 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- - 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có số seri DP21484011 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5s bị vỡ màn hình, đã bị hư hỏng, không sử dụng được, quá trình điều tra xác định tiền và điện thoại trên là tài sản của cháu Nguyễn Phương P1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bị hại nên đề nghị không xem xét.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu sơn Đỏ - Đen, số máy JM51E1650090, số khung MH1JM5114LK650479, biển số 67K1-910.24 và 01 giấy đăng ký xe mang tên bị cáo là tài sản hợp pháp của bị cáo và bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Dương Thị B1 là mẹ của bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 1.700.000 đồng để mua điện thoại khác. Quá trình điều tra, bà B không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này nên đề nghị không xem xét.
Tại bản luận cứ bảo vệ cho bị hại Nguyễn Phương P1 của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Phước L1 trình bày:
- - Về trách nhiệm hình sự: Thống nhất với toàn bộ nội dung bản Cáo trạng về việc truy tố bị cáo P về tội cướp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 268 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo cần áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo thể hiện khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được sửa sai, làm lại cuộc đời, trở thành người công dân tốt cho xã hội.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không có ý kiến.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoài P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận tội danh như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố là đúng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai đã nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người tham gia tố tụng khác và phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 20 phút, ngày 16/6/2024, tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Hoài P đã thực hiện hành vi dùng tay trái đấm vào cổ tay phải của cháu Nguyễn Phương P1 là người dưới 16 tuổi, sau đó chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5s trị giá 800.000 đồng và số tiền 500.000 đồng, tổng trị giá tài sản là 1.300.000 đồng của cháu P1 thì bị phát hiện, bắt giữ đã đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền tiêu xài không phải bằng chính sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, đã xâm phạm đến sức khỏe và tài sản của người khác đặc biệt là trẻ em được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự, trị an tại địa phương; Bị cáo P từng bị xét xử về hành vi cướp giật tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ thái độ xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định nêu trên, đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố T đề nghị áp dụng mức hình phạt như trên đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Quan điểm của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã tự nguyện bỏ ra bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có số seri DP21484011 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5s bị vỡ màn hình, đã bị hư hỏng, không sử dụng được, quá trình điều tra xác định tiền và điện thoại trên là tài sản của cháu Nguyễn Phương P1 nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bị hại là phù hợp pháp luật.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu sơn Đỏ - Đen, số máy JM51E1650090, số khung: MH1JM5114LK650479, biển số 67K1-910.24 và 01 giấy đăng ký xe mang tên Trần Hoài P là tài sản hợp pháp của bị cáo và bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- - Điều 106 và 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Hoài P phạm tội Cướp tài sản.
Xử phạt bị cáo Trần Hoài P 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe Honda, loại: Vario, màu sơn: Đỏ - Đen, số máy: JM51E1650090, số khung: MH1JM5114LK650479, biển số: 67K1-910.24 và 01 giấy đăng ký xe mô tô trên mang tên Trần Hoài P.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 02 năm 2025)
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Khánh Linh |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp tài sản
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hoài Phong -Tội cướp tài sản
