|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày 10 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH THANH HÓA
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Huy Hoàng
Ông Nguyễn Xuân Bản
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2003 tại phường H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: TDP L, phường H, tỉnh Thanh Hóa.
CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị N1; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án:
- - Ngày 24/8/2022, bị TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá, xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 98/2022/HS-ST. Ngày 05/4/2023 chấp hành xong bản án.
- - Ngày 01/02/2024, bị TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá, xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 25/2024/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2025.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 09/4/2019, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 110/QĐ-XLVPHC về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 09/10/2019, bị TAND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá, xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 89/2019/HS-ST.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 6 năm 2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Duy C, sinh năm 1966
Nơi cư trú: TDP T, phường H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981.
Nơi cư trú: TDP T, phường H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 12/6/2025, Nguyễn Văn Đ, đến quán nhà ông Lê Duy C ở tổ dân phố T, phường H mua bánh về ăn. Khi đến nơi, thấy nhà ông C đóng cửa không bán hàng nên Đ nảy sinh ý định vào nhà ông C trộm cắp tài sản. Đến tối cùng ngày, Đ đi chiếc xe môtô Super Dream, màu nâu, gắn biển kiểm soát 36N2 - 1450 mượn của anh Lê Trung K, sinh năm 2002, ở tổ dân phố N, phường H đi một vòng xung quanh nhà ông C quan sát, thấy nhà ông C vẫn khóa cửa, bên trong không có ánh điện sáng, biết nhà ông C không có ai nên Đ đợi đến đêm khuya sẽ đột nhập vào nhà ông C để trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ một mình đi chiếc xe môtô trên đến đầu đường rẽ vào phía sau nhà ông C, để xe ở đầu ngõ rồi đi bộ vào phía sau nhà ông C, trèo lên tường nhà hàng xóm bên cạnh rồi leo lên nhà hai tầng giáp nhà ông C, sau đó Đ đi ven theo mái tôn lên khu vực hiên trước tầng hai nhà ông C. Quan sát thấy cửa gỗ nhà ông C khóa trong, Đ lấy 3 thanh gỗ để bên cạnh chậu cây ở sân tầng hai cạy bung cánh cửa đi vào bên trong và khép hờ cửa lại, sau đó đi theo đường cầu thang xuống tầng một, đến phòng ngủ ngay cạnh phòng khách dùng tay mở cửa sổ lùa bằng kính của phòng ngủ thấy bên trong có 01 két sắt, Đ thử chui qua cửa sổ đột nhập vào phòng ngủ rồi đi lại vặn khóa chốt, mở cửa phòng, sau đó đi ra phòng khách bật, tắt công tắc đèn điện kiểm tra thấy phòng không gắn Camera nên Đ bật đèn phòng khách và quay vào phòng ngủ tìm kiếm tài sản, thì phát hiện dưới gầm giường có một hộp sắt không khóa. Đ mở hộp sắt ra, thấy bên trong có một túi bóng đen đựng số tiền 5.932.000 đồng gồm nhiều mệnh giá khác nhau, Đ lấy tiền bỏ vào túi quần. Sau đó, Đ tiếp tục lục lọi trong phòng để tìm tài sản, thì thấy có 02 chùm chìa khóa để ở trên ngăn tủ, trong đó có một chùm có một chìa khóa dạng khóa két. Đ cắm chìa khóa vào ổ, vặn tay cầm để mở két nhưng không được mà còn làm gãy tay cầm, phần cánh cửa két sắt bị cong vênh để lộ khe hở. Thấy vậy, Đ đi ra nhà bếp lấy 01 con dao, 01 cái kéo, 02 chiếc khăn mặt và bẻ chân chống xe đạp nhà ông C sử dụng làm công cụ cậy phá két. Sau khi mở được két sắt, Đ thấy bên trong có 13 nhẫn tròn, 01 sợi giây chuyền vàng và 2.000.000 đồng tiền mặt, Đ lấy toàn bộ số tiền, vàng trên và các công cụ phá két bỏ vào 02 túi bóng, rồi theo đường cũ thoát ra bên ngoài, sau đó ra bãi biển thuộc tổ dân phố T, phường H vứt túi bóng đựng dao, kéo, khăn mặt và chân chống xe đạp xuống biển.
Sau khi trộm cắp tiền, vàng nhà ông C, Đ lấy ra 02 nhẫn tròn và 5.200.000 đồng đem theo người để sử dụng; số còn lại gồm 11 nhẫn tròn trơn và 01 sợi giây chuyền vàng “9999” cùng với số tiền 2.732.000 đồng, Đ cất giấu trên nóc nhà V khu tái định cư H, thuộc thôn H, xã H, thị xã N cũ (nay là phường N), tỉnh Thanh Hóa. Đến chiều tối ngày 13/6/2025, Đ đem 02 chiếc nhẫn tròn ra xã Q, tỉnh Thanh Hóa bán cho anh Nguyễn Trọng T1, chủ tiệm V 01 chiếc nhẫn tròn loại 01 chỉ với giá 10.600.000 đồng và bán cho chị Nguyễn Thị H, chủ tiệm V1 01 nhẫn tròn loại 01 chỉ với giá hơn 10.000.000 đồng (Đ không nhớ cụ thể). Toàn bộ số tiền bán vàng và số tiền mang theo người, Đ đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 17/6/2025, Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Văn Đ đến làm việc, biết không thể trốn tránh được nên Đ đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của gia đình nhà ông Lê Duy C như đã nêu trên.
Căn cứ lời khai của Đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ số vàng và tiền mặt còn lại được Đ cất giấu tại nóc Nhà Văn hóa tái định cư H1.
Bản Kết luận giám định số 2267/KL-KTHS, ngày 24/6/2025, Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: “171 tờ tiền gửi giám định là tiền thật” Bản Kết luận giám định tài sản số 4873/KL-KTHS, ngày 24/6/2025, V2 - Bộ C1, kết luận:
“Các mẫu vật gửi giám định là Vàng có hàm lượng Au từ 99% trở lên, với tổng trọng lượng là: 67,49 gam”.
Tại Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS, ngày 25/6/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã N (cũ), tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
“01 dây chuyền màu vàng chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, móc khoá có chữ “CĐ”, có tổng khối lượng 15,00 gam (04 chỉ) là vàng AU, hàm lượng 99,74%, trị giá 42.600.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng tròn trơn, bên trong có chữ, số “204T-Phú 1”, khối lượng 3,75 gam (01 chỉ) là vàng AU, hàm lượng 99,95%, trị giá 10.650.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng tròn trơn, bên trong có chữ, số “HÙNG N 1C 9999”, khối lượng 3,75 gam (01 chỉ) là vàng AU, hàm lượng 99,91%, trị giá 10.650.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng tròn trơn, bên trong có chữ, số “MẠNH HIỆP LÊ HOÀN 297-291 1C”, khối lượng 3,75 gam (01 chỉ) là vàng AU, hàm lượng 99,89%, trị giá 10.650.000 đồng; 03 nhẫn kim loại màu vàng tròn trơn, bên trong có chữ, số “TÂM ĐIỀN 9999”, khối lượng 15,00 gam (04 chỉ) là vàng AU, hàm lượng 99,92%, trị giá 42.600.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng tròn trơn, bên trong có chữ, số “CHI DIỆP 9999”, khối lượng 3,74 gam (01 chỉ) là vàng AU, hàm lượng 99,93%, trị giá 10.650.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng tròn trơn, bên trong có chữ, số “CHI DIỆP 9999 2 chỉ”, khối lượng 7,50 gam (02 chỉ) là vàng AU, hàm lượng 99,93%, trị giá 21.300.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng tròn trơn, bên trong có chữ, số “CHI DIỆP 2”, khối lượng 7,50 gam (02 chỉ) là vàng AU, hàm lượng 99,93%, trị giá 21.300.000 đồng; 02 nhẫn kim loại màu vàng tròn trơn, bên trong có chữ, số “CHI DIỆP 9999 1 chỉ”, khối lượng 7,50 gam (02 chỉ) là vàng AU, hàm lượng 99,93%, trị giá 21.300.000 đồng và 02 nhẫn 9999 có khối lượng 7,50 gam (02 chỉ), trị giá 21.300.000 đồng”. Tổng số lượng vàng là 20 chỉ, trị giá 213.000.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tiền, vàng mà Nguyễn Văn Đ trộm cắp của gia đình ông Lê Duy C là 220.932.000 đồng.
Bản Kết luận giám định số 2511/KL-KTHS, ngày 11/7/2025, Phòng K1 Công an tỉnh T đối với dấu vết, mẫu vật thu lượm trong quá trình khám nghiệm hiện trường ngày 14/6/2025 kết luận : “Phát hiện được dấu vết đường vân nhưng không đủ yếu tố giám định trên mẫu vật”.
Bản Kết luận giám định số 2437/KL-KTHS ngày 14/07/2025 Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: “Trên các mẫu vật gửi giám định đều có tế bào người, do lượng tế bào ít nên không xác định được kiểu gen”.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐGTS, ngày 25/6/2025, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N, Thanh Hóa kết luận: “01 két sắt nhãn hiệu KOREA SAFE, trị giá 700.000 đồng; 01 chân chống xe đạp bằng kim loại, trị giá 40.000 đồng”. Tổng giá trị thiệt hại là 740.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 chiếc USB bên trong lưu trữ 02 đoạn Video được trích xuất từ Camera an ninh của tiệm V và tiệm V1, ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn Đ trao đổi bán 02 chỉ vàng vào ngày 13/6/2025 (do chị H và anh T1 giao nộp)
Bản Kết luận giám định số 2718/KL-KTHS, ngày 30/7/2025, Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: “Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 tệp Video của 02 USB gửi giám định; Trích xuất 04 hình ảnh trong 02 tệp Video gửi giám định”.
* Về vật chứng vụ án:
- - 01 chiếc két sắt nhãn hiệu KOREA SAFE, MODEL: KV 56. NO 40596; 01 tấm kính trong suốt có kích thước (73 x 11)cm; 01 hộp nhựa đựng vàng hình tròn, màu đỏ có đường kính 5cm; 01 hộp nhựa đựng vàng, hình tròn màu đỏ có đường kính 3,5cm; 01 hộp nhựa bên ngoài bọc vải có nắp hình hộp chữ nhật kích thước (7 x 5 x 4,5)cm và 02 túi nilon đựng tài liệu.
- - 11 nhẫn vàng, 01 sợi giây chuyền vàng và 2.732.000 đồng tiền mặt Đ cất dấu tại nóc nhà V khu tái định cư H;
- - 01 xe mô tô Super Dream, màu nâu, gắn biển kiểm soát mang số 36N2 - 1450, đã qua sử dụng.
Sau khi giám định, định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Duy C toàn bộ tài sản thu giữ nêu trên.
Riêng chiếc xe mô tô thu giữ trên, do chưa xác định được nguồn gốc xe nên đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Đối với 02 chỉ vàng bị cáo đã bán, anh T1 và chị H khai đã đổi hàng và bán lại cho người khác nên không thu giữ được.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là ông Lê Duy C có đơn yêu cầu Nguyễn Văn Đ bồi thường tổng số tiền 27.240.000 đồng, gồm: 5.200.000 đồng tiền mặt Đ đã chi tiêu; giá trị 02 chiếc nhẫn vàng mà Đ đã bán theo kết quả định giá là 21.300.000 đồng và giá trị thiệt hại của chiếc két sắt và chân chống xe đạp bị hư hỏng là 740.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSKV9, ngày 06/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản " theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản và xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.
Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Lê Duy C số tiền 27.240.000 đồng
Về xử lý vật chứng: Giao cho Phòng C2 Công an tỉnh T 01 xe mô tô Dream, gắn biển kiểm soát mang số 36N2-1450 xử lý theo quy định
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, có nghĩa vụ bồi thường nên phải chịu án phí DSST.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng đã truy tố; bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của Kiểm sát viên; lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối cải và mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Căn cứ diễn biến tội phạm, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ 00, ngày 12/6/2025 lợi dụng thời điểm đêm tối, gia đình ông C vắng nhà, Nguyễn Văn Đ đã lén lút đột nhập vào nhà ông Lê Duy C ở tổ dân phố T, phường H, tỉnh Thanh Hóa trộm cắp số tiền 7.932.000 đồng và 20 chỉ vàng. Tổng trị giá tiền và vàng Đ trộm cắp của gia đình ông C là 220.932.000 đồng (hai trăm hai mươi triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Hành vi trộm cắp tài sản trị giá 220.932.000 đồng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với hành vi cậy phá làm hỏng chiếc két sắt và bẻ gãy một chân chống xe đạp của gia đình ông Lê Duy C, gây thiệt hại 740.000 đồng. Do giá trị thiệt hại tài sản chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Phòng K1 Công an tỉnh T đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn Đ theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Trọng T1 và chị Nguyễn Thị H đã mua 02 chỉ vàng của Nguyễn Văn Đ, quá trình điều tra xác định, khi mua anh T1 và chị H không biết đây là tài sản do Đ phạm tội mà có, nên anh T1 và chị H không phạm tội.
Đối với anh Lê Trung K, là người đã cho Nguyễn Văn Đ mượn chiếc xe môtô, anh K không biết việc Đ sử dụng chiếc xe đi trộm cắp tài sản và cũng không được Đ bàn bạc, trao đổi gì về việc này nên anh K không vi phạm pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự xã hội được duy trì, tài sản của công dân được bảo vệ; để giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo là người có nhiều tiền án, đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” tại bản án số 25/2024/HS- ST ngày 01/02/2024 của Tòa án thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2025 chưa được xóa án tích, lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú. Nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
HĐXX xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án, mới chấp hành xong hình phạt tù lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, trong môi trường cải tạo nghiêm khắc trong một thời hạn nhất định để trừng trị và giáo dục bị cáo ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[6] Hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Lê Duy C tổng số tiền 27.240.000 đồng; gồm 5.200.000 đồng bị cáo chiếm đoạt đã chi tiêu hết; giá trị 02 chiếc nhẫn vàng đã bán theo kết quả định giá là 21.300.000 đồng và giá trị thiệt hại của chiếc két sắt và chân chống xe đạp bị hư hỏng là 740.000 đồng.
[8] Xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc két sắt nhãn hiệu KOREA SAFE; 01 hộp nhựa đựng vàng hình tròn, màu đỏ có đường kính 5cm; 01 hộp nhựa đựng vàng, hình tròn màu đỏ có đường kính 3,5cm; 01 hộp nhựa bên ngoài bọc vải có nắp hình hộp chữ nhật kích thước (7 x 5 x 4,5)cm và 02 túi nilon đựng tài liệu; 11 nhẫn vàng, 01 sợi giây chuyền vàng và 2.732.000 đồng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét.
- - Đối với chiếc xe môtô Honda Dream II, gắn biển kiểm soát mang số 36N2-1450, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nguồn gốc xe, xác định chiếc xe trên là của anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố T, phường H, tỉnh Thanh Hóa (là chú rể của anh Lê Trung K, anh K mượn xe của anh T sau đó cho Đ mượn sử dụng); chiếc xe này anh T mua lại của một người mua bán sắt vụn không quen biết với giá 1.700.000 đồng, sử dụng làm phương tiện đi lại từ thời điểm mua vào năm 2021 đến nay, không có tranh chấp, khiếu kiện gì. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số khung, số máy nguyên thủy của chiếc xe môtô trên nhưng không xác định được; tiến hành tra cứu xác định chiếc xe này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng; xác minh thông tin về biển số xe 36N21450, xác định biển số này cấp cho xe môtô nhãn hiệu SUPERDREAM, màu sơn nâu, số máy HA08E0935571; số khung HA08086Y085524, đăng ký xe số 028328 mang tên Nguyễn Đình B, địa chỉ: T, Tùng L, Tĩnh G do Phòng CSGT Công an tỉnh T cấp ngày 25/9/2007, hiện anh B vẫn đang sử dụng chiếc xe môtô và biển số xe được cấp. Do đó, có cơ sở xác định biển số 36N2-1450 gắn theo chiếc xe môtô của anh T là biển giả, đồng thời do không xác định được số khung, số máy nguyên thủy của xe nên cũng không xác định được nguồn gốc chiếc xe này. Vì vậy, giao cho Phòng C2 Công an tỉnh T xử lý theo quy định.
- [8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Có nghĩa vụ bồi thường nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Nguyễn Văn Đ, phạm tội trộm cắp tài sản.
- Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 6 năm 2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Lê Duy C số tiền 27.240.000 đồng (hai mươi bảy triệu, hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
Sau khi án có hiệu lực pháp luật, đến thời điểm thi hành án, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án số tiền trên, nếu bên phải thi hành án không thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu thêm phần lãi suất, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
- [4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Giao 01 xe môtô Honda Dream II, màu nâu, gắn biển kiểm soát mang số 36N2-1450 cho Phòng C2 Công an tỉnh T xử lý theo quy định.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số: 14/2026/KV9 ngày 21/11/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.362.000 đồng (một triệu ba trăm sáu mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Sơn |
9
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ trộm cắp tài sản
