Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày: 10-4-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Nguyễn Thị Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST- HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Q, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 24/6/1980, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: số nhà C đường T, tổ F, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: số nhà A đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao đài; trình độ văn hóa: 07/12; nghề nghiệp: Làm vườn; con ông Dương L, sinh năm 1948 (đã chết) và bà La Thị B, sinh năm 1950; có vợ: Trần Thị Hoàng K, sinh năm 1993, con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 25/8/2003, bị cáo Q bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm tù về tội “Hiếp dâm” theo Bản án số 136/HSST, đã được xóa án tích.
  • + Ngày 16/9/2014, bị cáo Q bị Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 73/2015/QĐ/XPVPHC về hành vi gây rối trật tự công cộng với số tiền 200.000 đồng, đã nộp số tiền phạt ngày 17/9/2014, đã được xóa.
  • + Ngày 17/6/2015, bị cáo Q bị Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 63/2015/QĐ/XPVPHC về hành vi hủy hoại tài sản với số tiền 3.500.000 đồng, đã nộp số tiền phạt ngày 17/6/2015, đã được xóa.
  • + Ngày 19/9/2017, bị cáo Q bị Công an phường L, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau với số tiền 750.000 đồng, đã nộp số tiền phạt ngày 19/9/2017, đã được xóa.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Phân Trại tạm giam B-Phòng PCông an tỉnh L từ ngày 24/10/2024 đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: Trần Hải C, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 21/4/1989, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số nhà B đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Trần Thị L1, sinh năm 1954; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.

- Tiền án: Ngày 19/3/2024, bị cáo C bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, kể từ ngày tuyên án về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 44/2024/HS-ST, chưa được xóa án tích.

- Nhân thân: Ngày 17/10/2007, bị cáo C bị Công an phường L, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 255/QĐ-XPVPHC. Bị cáo chưa nộp số tiền phạt này, tuy nhiên đến nay thời hiệu thi hành đối với Quyết định xử phạt hành chính nêu trên đã hết.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Phân Trại tạm giam B-Phòng PCông an tỉnh L từ ngày 24/10/2024 đến nay. Có mặt.

+ Bị hại: Anh Nguyễn Công L2, sinh năm 1993; địa chỉ: số nhà D đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Nguyễn Xuân Q1, sinh năm 1990, nơi cư trú: số nhà A đường T, tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  • - Anh Nguyễn Đình P, sinh năm 1992; địa chỉ: số nhà D đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

+ Người làm chứng: Bà Đặng Thị G, sinh năm 1963; số nhà D đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 16/4/2024, Dương Q trong lúc uống rượu cùng với Trần Hải C và Nguyễn Xuân Q1, sinh năm 1990, nơi cư trú: số nhà A đường T, tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại nhà của Q, Q có nhờ C và Q1 đến nhà anh Nguyễn Công L2, sinh năm 1993, nơi cư trú: số nhà D đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để đòi nợ số tiền khoảng hơn 3.000.000 đồng mà L2 nợ Q thì được C và Q1 đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô chở theo Q, còn Q1 điều khiển xe mô tô đi một mình đến nhà của L2. Khi đến nơi thì Q, Q1, C dừng lại trên đầu đường hẻm cách cổng nhà của L2 10 mét, còn Q đến sát hàng rào nói L2 trả lại số tiền trên. Do không có tiền nên L2 nói Q trả dần thì Q không đồng ý nên hai bên xảy ra mâu thuẫn.

Nguyễn Đình P, sinh năm 1992, là em trai của L2 đang ở trong nhà nghe thấy tiếng ồn ào nên đi ra nói chuyện với Qui thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn nên P vào trong nhà ra cầm một con dao có chiều dài là 45cm, phần lưỡi dao làm bằng sắt dài 32cm đi đến chém một nhát hướng từ trên xuống dưới về phía tay của Q đang để trên hàng rào sắt thì Q rụt tay lại nên không trúng. Thấy vậy, Q1 nhặt cục gạch ở lề đường ném về phía anh P nhưng cũng không trúng. Tiếp đến, L2 dùng tay phải nhặt mảnh gạch vỡ rồi trèo qua hàng rào sắt rồi ném về phía Q và Q1 nhưng không trúng ai. Phi lúc này mở cửa cổng đi đến vị trí của Q đang đứng rồi dùng tay trái cầm dao chém trúng tay trái của Q một nhát. Thấy vậy, Q1 xông đến ngăn cản và dùng tay đẩy P lùi lại. Q tiếp tục lao đến dùng tay ôm ngang ngực P, hai bên vật nhau qua lại thì P và Q cùng ngã xuống nền đường, trên tay Q lúc này vẫn đang cầm dao. L2 lao đến dùng tay phải cầm vào phần lưỡi dao của Q và giật mạnh làm tay của L2 bị thương tích. C thấy vậy, lao vào ôm người L2 và kéo L2 ra ngoài, còn Q1 lao đến dùng tay phải đấm trúng vào vùng đầu và mặt của P. Thấy vậy, bà Đặng Thị G, sinh năm 1963 là mẹ của P chạy đến can ngăn và đẩy Q1 ra. Sau khi bà G can ngăn thì Q1 tiếp tục dùng tay phải cầm cục gạch trên mặt đường đập một cái trúng vào vùng đầu bên trái của P, lúc này P buông tay trái cầm dao ra rồi giằng co, vật nhau qua lại với Q1. L2 chạy đến nhặt con dao của P thì C dùng tay gỡ tay của L2 đang cầm dao ra để Q lấy lại được con dao. Sau khi lấy được dao thì Q cầm bằng tay phải và chém một cái trúng vào vùng đỉnh đầu bên trái của L2. C tiếp tục dùng tay phải cầm cục gạch đánh một cái trúng vào vùng bên phải đỉnh đầu của L2 gây thương tích. Lúc này bà G đến can ngăn thì hai bên dừng lại, sau đó P và L2 được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện I. Qui cũng cầm con dao mang về cất giấu ở gần khu vực cổng hàng rào sắt gần nhà.

  • * Tại Bản kết luận giám định số 400/KLTTCT-PYLĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đình P tại thời điểm giám định là 01%, tổn thương do vật có cạnh gây nên.
  • * Tại Bản kết luận giám định số 404/KLTTCT-PYLĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Xuân Q1 tại thời điểm giám định là 06%, tổn thương do vật sắc gây nên.
  • * Tại Bản kết luận giám định số 405/KLTTCT-PYLĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Q tại thời điểm giám định là 03%, tổn thương do vật sắc gây nên.
  • * Tại Bản kết luận giám định số 553/KLTTCT-PYLĐ ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận:
    • - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Nguyễn Công L2 tại thời điểm giám định là:
      • + Sẹo thái dương đỉnh trái là 02%.
      • + Tụ máu dưới màng cứng, khuyết sọ là 27%.
      • + Sẹo lòng bàn tay phải là 02%.
      • + Sẹo đốt gần ngón II tay phải là 01%.
      • + Sẹo đỉnh phải là 01%.
    • - Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Công L2 tại thời điểm giám định là 31%. Tổn thương do vật sắc gây nên.
  • * Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 791/KLTTCT-PYLĐ ngày 31/12/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận: trừ Sẹo lòng bàn tay phải là 02% và sẹo đốt gần ngón II tay phải là 01% thì tỷ lệ thương tích còn lại của Nguyễn Công L2 là 29%.
  • * Tại Bản kết luận giám định số 549/KL-KTHS ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C2 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: không phát hiện dấu vết bị chỉnh sửa, cắt, ghép về nội dung trên tập video gửi giám định.

Bản Cáo trạng số 35/CT-VKS, ngày 14 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Dương Q và Trần Hải C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Dương Q và Trần Hải C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17, 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Q từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

- Áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17, 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56, 58 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hải C từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo theo Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc thành 30 tháng tù và tổng hợp với bản án mới này theo Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tống tụng hình sự.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã thu giữ: 01 con dao có tổng chiều dài là 45cm (trong đó phần lưỡi dao làm bằng sắt dài 32cm, mũi nhọn, phần cán dao làm bằng nhựa dài 13cm); 01 số mảnh gạch vỡ màu đỏ có nhiều kích thước khác nhau; 01 chiếc dép loại xỏ ngón màu trắng phía bên phải (loại xỏ ngón); 01 ổ khóa bằng sắt, không rõ nhãn hiệu, kích thước 8,5cm x 4,5cm x 1,5cm. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự: Sau khi sự việc xảy ra, Dương Q và C đã bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Công L2 số tiền 10.000.000 đồng, anh L2 không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và viết đơn bãi nại cho bị cáo Q và C.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

+ Các bị cáo đã khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại gì đối với Bản cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp gì với Kiểm sát viên.

+ Các bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, xin lỗi bị hại, đề nghị HĐXX xem xét, xử phạt mức hình phạt nhẹ nhất để sớm chở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi cấu thành tội phạm thể hiện: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Dương Q và Trần Hải C đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; kết luận giám định pháp y về thương tích; lời khai của bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ, chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Do có mâu thuẫn với nhau trong việc đòi nợ. Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 16/4/2024, tại đường H đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Dương Q đã thực hiện hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đỉnh đầu bên trái của Nguyễn Công L2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29%, tổn thương do vật sắc gây nên. Trần Hải C đã thực hiện hành vi cầm cục gạch đánh trúng vào vùng đỉnh đầu bên phải của L2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.

Hành vi của các bị cáo Dương Q và Trần Hải C đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là sức khoẻ, tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng dao, cục gạch là hung khí nguy hiểm chém, đập gây thương tích cho bị hại là anh L2, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29%, hành vi này bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo thực hiện tội phạm nghiêm trọng, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Trần Hải C bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 19/3/2024, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn hối cải; đã bồi thường thiệt hại; bị hại cũng có lỗi một phần và được bị hại viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét tính chất, mức độ của từng bị cáo như sau:

Các bị cáo thực hiện tội phạm không có sự bàn bạc và không phân công nhiệm vụ nên tính chất, mức độ ngang nhau.

[8] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Đối với bị cáo Trần Hải C phạm tội mới trong thời gian chấp hành 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc. Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo thành 30 tháng tù và tổng hợp với bản án mới theo Điều 56 Bộ luật Hình sự.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng vụ án như sau: Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã thu giữ: 01 con dao có tổng chiều dài là 45cm (trong đó phần lưỡi dao làm bằng sắt dài 32cm, mũi nhọn, phần cán dao làm bằng nhựa dài 13cm); 01 số mảnh gạch vỡ màu đỏ có nhiều kích thước khác nhau; 01 chiếc dép loại xỏ ngón màu trắng phía bên phải (loại xỏ ngón); 01 ổ khóa bằng sắt, không rõ nhãn hiệu, kích thước 8,5cm x 4,5cm x 1,5cm. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.

[10] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự. Sau khi sự việc xảy ra, Dương Q và C đã bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Công L2 số tiền 10.000.000 đồng, anh L2 không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và viết đơn bãi nại cho bị cáo Q và C.

[11] Các vấn đề khác:

Đối với việc Dương Q bị anh Nguyễn Đình P dùng dao gây thương tích với tỷ lệ 03%. Tuy nhiên, đến ngày 13/10/2024 thì bị cáo Q tự nguyện viết đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên không xem xét nhiệm hình sự đối với P. Công an thành phố B đã tiến hành ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đình P theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Xuân Q1 có hành vi dùng gạch gây thương tích cho anh Nguyễn Đình P với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. Quá trình làm việc thì Nguyễn Đình P tự nguyện viết đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Q1. Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q1 theo quy định của pháp luật.

Đối với việc anh Nguyễn Xuân Q1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%. Tuy nhiên, anh Q1 không xác định được người nào dùng hung khí gây ra. Mặt khác, đến ngày 13/10/2024 anh Q1 cũng tự nguyện viết đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

Đối với anh Nguyễn Công L2 sau khi giám định thương tích đã xác định tổng tỷ lệ thương tích của L2 là 31%. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định được các bị cáo Dương Q và Trần Hải C chỉ gây thương tích cho anh L2 với tỷ lệ thương cơ thể là 29%. Đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02% còn lại là do L2 tự cầm tay vào lưỡi dao của Q và kéo mạnh nên tự gây thương tích cho L2 nên không xem xét xử lý về hành vi này.

[12] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử là có căn cứ chấp nhận.

[13] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Dương Q và Trần Hải C phạm tội “Cố ý gây thương tích".
    1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17, 38 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Dương Q 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024.
    2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17, 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56, 58 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Hải C 30 (ba mươi) tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo thành 30 tháng tù, theo Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 60 (sáu mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao có tổng chiều dài là 45cm (trong đó phần lưỡi dao làm bằng sắt dài 32cm, mũi nhọn, phần cán dao làm bằng nhựa dài 13cm); 01 số mảnh gạch vỡ màu đỏ có nhiều kích thước khác nhau; 01 chiếc dép loại xỏ ngón màu trắng phía bên phải (loại xỏ ngón); 01 ổ khóa bằng sắt, không rõ nhãn hiệu, kích thước 8,5cm x 4,5cm x 1,5cm. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/02/2025 giữa Cơ quan Công an thanh phố Bảo Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Dương Q và Trần Hải C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đông;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A..DS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC

Vào hồi 14 giờ 50 phút ngày 10 tháng 4 năm 2025.

Tại phòng nghị án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức C1.
  • 1. Ông Hoàng Xuân T.
  • 2. Bà Nguyễn Thị H.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST- HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với: Bị cáo Dương Q, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 24/6/1980, tại tỉnh Lâm Đồng, cùng đồng phạm.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

I. Về tội danh:

  • - Ý kiến Hội thẩm nhân dân Tỵ: “Cố ý gây thương tích”.
  • - Ý kiến Hội thẩm nhân dân H: Thống nhất với ý kiến HTND Tỵ.
  • - Ý kiến Chủ tọa phiên tòa: Thống nhất với ý kiến HTND Tỵ và H.

HĐXX biểu quyết: Thống nhất 3/3.

II. Về có tội hay không có tội, áp dụng điều luật và hình phạt:

  • - Ý kiến Hội thẩm nhân dân Tỵ:
  1. Tuyên bố các bị cáo Dương Q và Trần Hải C phạm tội “Cố ý gây thương tích".
    1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17, 38 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Dương Q 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024.
    2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17, 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56, 58 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Hải C 30 (ba mươi) tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo thành 30 tháng tù, theo Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 60 (sáu mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024.
  • - Ý kiến Hội thẩm nhân dân H: Thống nhất với ý kiến HTND Tỵ.
  • - Ý kiến Chủ tọa phiên tòa: Thống nhất với ý kiến HTND Tỵ và H.

HĐXX biểu quyết: Thống nhất 3/3.

III. Các biện pháp tư pháp.

  • - Ý kiến Hội thẩm nhân dân Tỵ:

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao có tổng chiều dài là 45cm (trong đó phần lưỡi dao làm bằng sắt dài 32cm, mũi nhọn, phần cán dao làm bằng nhựa dài 13cm); 01 số mảnh gạch vỡ màu đỏ có nhiều kích thước khác nhau; 01 chiếc dép loại xỏ ngón màu trắng phía bên phải (loại xỏ ngón); 01 ổ khóa bằng sắt, không rõ nhãn hiệu, kích thước 8,5cm x 4,5cm x 1,5cm. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/02/2025 giữa Cơ quan Công an thanh phố Bảo Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

  • - Ý kiến Hội thẩm nhân dân H: Thống nhất với ý kiến HTND Tỵ.
  • - Ý kiến Chủ tọa phiên tòa: Thống nhất với ý kiến HTND Tỵ và H.

HĐXX biểu quyết: Thống nhất 3/3.

IV. Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Ý kiến Hội thẩm nhân dân Tỵ:
  1. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Dương Q và Trần Hải C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự.
  • - Ý kiến Hội thẩm nhân dân H: Thống nhất với ý kiến HTND Tỵ.
  • - Ý kiến Chủ tọa phiên tòa: Thống nhất với ý kiến HTND Tỵ và H.

HĐXX biểu quyết: Thống nhất 3/3.

Buổi nghị án kết thúc lúc 15 giờ 00 phút, ngày 10 tháng 4 năm 2024.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hoàng Xuân Tỵ – Nguyễn Thị Hạnh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q và ĐP gây thuong tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger