|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày 09-4-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Dương
- Ông Nguyễn Đắc Hưng
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Duyến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HS ngày 28/03/2025 đối với bị cáo:
Lê Quang Anh V - Sinh ngày 29/7/2009
Nơi thường trú: TDP Đ, phường T, TX N, Thanh Hóa.
Nơi tạm trú: TDP D, phường X, TX N, Thanh Hóa.
Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Quang T và bà Lê Thị N.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2025, hiện bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Bà Lê Thị N, sinh năm 1983 và ông Lê Quang T, sinh năm 1985. Cùng địa chỉ: TDP D, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Khắc H - Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 3, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
- Bị hại:
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1990 và ông Nguyễn Quang T1, sinh năm 1986. Cùng địa chỉ: Tiểu khu A, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. ĐT: 0975.355.xxx (cửa hàng bún đậu T) (vắng mặt).
- Bà Lê Thị H2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tiểu khu C, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. ĐT: 0974.389.xxx (cửa hàng T2) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Quang Anh V đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác 02 lần, cụ thể:
Khoảng 21 giờ ngày 12/01/2025, Lê Quang A V đi vào cửa hàng bán bún đậu Tiếp Hương của gia đình anh Nguyễn Quang T1 ở tiểu khu A, phường H, thị xã N, lúc này trong quán có chị Lê Thị H1 (vợ anh T1) đang ngồi ở cửa phòng ngủ bên trong, V đi vào khu vực bếp của quán thấy trên kệ bếp có 01 chiếc chậu nhựa màu xanh bên trong có tiền, V đi lại ôm chiếc chậu đựng tiền rồi bỏ chạy ra ngoài, chị H1 phát hiện đuổi theo nhưng không kịp. Sau khi cướp giật được chiếc chậu đựng tiền, V chạy vào khu vườn của một nhà dân trốn và đếm được số tiền 182.000 đồng, V bỏ tiền vào túi quần và để chiếc chậu lại đây.
Đến khoảng 22 giờ cùng này, V đi bộ đến cửa hàng tạp hóa Hiền B mua một chai nước ngọt và một hộp bim bim rồi thanh toán tiền qua tài khoản cho chị H2, chờ cơ hội để thực hiện hành vi cướp giật tài sản (trước đó, chiều ngày 12/01/2025 V cũng đã đến cửa hàng Hiền B để quan sát trước xem chị H2 để tiền ở đâu để chiếm đoạt). Khi thấy chị H2 đang kiểm tra số tiền chuyển vào tài khoản trên điện thoại, lơ là, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản, V nhanh chóng giật lấy túi nilon màu đỏ bên trong đựng tiền và điện thoại di động đang để trên thùng hàng gần đó rồi bỏ chạy về phía đường Q, sau đó đi vào khu vực chợ C để trốn. Bất ngờ bị giật mất túi tiền, chị H2 tri hô và đuổi theo V, cùng lúc này Tổ công tác Công an thị xã N đang làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phường H sau khi tiếp nhận thông tin vụ việc đã cùng với một số người dân truy đuổi, phát hiện V đang lẩn trốn trong chợ C. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V, thu giữ trên tay V 01 túi nilon bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng và số tiền 85.449.000 đồng; thu giữ trong túi quần bên trái của V số tiền 182.000 đồng. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của V 01 chiếc mũ bảo hiểm màu trắng sọc đen để phục vụ công tác điều tra.
Tại Kết luận về việc định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 15/01/2025, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu hồng, bộ nhớ 128GB, bên trong có 01 sim Viettel số 0964.652.xxx, điện thoại đã qua sử dụng có tổng giá trị là 11.035.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 487/KL-KTHS, ngày 21/01/2025, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 373 tờ tiền thu giữ trong quá trình bắt quả tang Lê Quang Anh V là tiền thật.
Đối với chiếc chậu nhựa V cướp giật tại cửa hàng của anh Nguyễn Quang T1, V khai không nhớ đã vứt ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để truy tìm, thu giữ được. Về đặc điểm và giá trị của chiếc chậu nhựa, anh T1 khai chiếc chậu nhựa bị cướp giật đã cũ rách, giá trị không đáng kể nên anh không có yêu cầu đề nghị gì.
Quá trình điều tra Lê Quang Anh V đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi cướp giật tài sản của bản thân như đã nêu trên, lời khai của bị can phù hợp lời khai của các bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Về vật chứng vụ án: Thông qua bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng, đồ vật sau:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng, bộ nhớ 128GB, số Emei 1: 35068975860967, số Emei 2: 350689758395053, bên trong có 01 sim Viettel số 0964.652.xxx, điện thoại đã qua sử dụng và số tiền 85.449.000 đồng (Đây là số tiền và tài sản V cướp giật của chị Lê Thị H2);
- Số tiền 182.000 đồng (Đây là số tiền V cướp giật của anh Nguyễn Quang T1);
- 01 mũ bảo hiểm màu trắng sọc đen, đã qua sử dụng (Mũ bảo hiểm của Lê Quang Anh V).
Sau khi định phục vụ công tác giám định và định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại và số tiền 85.449.000 đồng cho chị Lê Thị H2 và trả lại số tiền 182.000 đồng cho anh Nguyễn Quang T1. Đối với chiếc mũ bảo hiểm màu trắng sọc đen, xét thấy không phải là vật chứng vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị can Lê Quang Anh V theo quy định pháp luật.
Về dân sự:
Chị Lê Thị H2 và vợ chồng anh Nguyễn Quang T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm về dân sự và đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSNS ngày 05/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Quang Anh V về tội “Cướp giật tài sản”. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Khoản 4 Điều 115, khoản 3 Điều 119, Khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Xử phạt bị cáo V từ 08 đến 10 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/01/2025. Về dân sự: Anh T1, chị H1 và chị H2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận:
Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận. Người bào chữa cho bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người chưa thành niên, chưa đủ nhận thức pháp luật nên xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng:
Các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin hứa không bao giờ tái phạm, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận:
Chiều ngày 12/01/2025, tại cửa hàng B1 ở tiểu khu A, phường H, thị xã N, Lê Quang Anh V đã có hành vi cướp giật số tiền 182.000đ (đựng trong chiếc chậu nhựa) của anh Nguyễn Quang T1, chị Lê Thị H1.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, tại cửa hàng T2 ở tiểu khu C, phường H, thị xã N, V tiếp tục có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Iphone 13 trị giá 11.035.000 đồng và số tiền 85.449.000 đồng của chị Lê Thị H2.
Tổng giá trị tài sản V cướp giật được là 96.666.000 đồng (chín mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, dữ liệu trích xuất cammera tại hiện trường xảy ra vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Quang Anh V phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Bị cáo Lê Quang Anh V đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, công khai giật lấy tài sản đang trong sự quản lý của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Những người bị hại đều đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông nội bị cáo là người có công với cách mạng, ông cố của bị cáo là liệt sĩ nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, cần xét bị cáo là người chưa thành niên (thời điểm phạm tội là 15 tuổi 05 tháng) nên HĐXX áp dụng các quy định, nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo Bộ luật hình sự và áp dụng Luật tư pháp người chưa thành niên. Dựa trên cơ sở phân tích về tâm lý của người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và về tinh thần, bị hạn chế về nhận thức cũng như kinh nghiệm, kỹ năng sống. Đây là độ tuổi phát triển nhanh chóng về thể chất nhưng có nhiều bất ổn về tâm sinh lý, chưa đủ nhận thức hết được nguy hiểm của hành vi phạm tội. Hình phạt dành cho người chưa thành niên chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập, sống phụ thuộc gia đình nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt tù bị cáo một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, rèn luyện, tu dưỡng bản thân, hoàn thiện về nhận thức, biết tuân thủ pháp luật, sớm trở thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập, sống phụ thuộc gia đình nên nên hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 90, Điều 91 của Bộ luật hình sự.
Khoản 4 Điều 115, khoản 3 Điều 119, Khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.
Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên bố:
Bị cáo Lê Quang Anh V phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt:
Bị cáo Lê Quang Anh V 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/01/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
Về án phí:
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về cướp giật tài sản
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chiều ngày 12/01/2025, tại cửa hàng B1 ở tiểu khu A, phường H, thị xã N, Lê Quang Anh V đã có hành vi cướp giật số tiền 182.000đ (đựng trong chiếc chậu nhựa) của anh Nguyễn Quang T1, chị Lê Thị H1. Khoảng 21 giờ cùng ngày, tại cửa hàng T2 ở tiểu khu C, phường H, thị xã N, V tiếp tục có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Iphone 13 trị giá 11.035.000 đồng và số tiền 85.449.000 đồng của chị Lê Thị H2. Tổng giá trị tài sản V cướp giật được là 96.666.000 đồng (chín mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
