Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

--------

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày 02 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết.

Thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Tâm, ông Đỗ Thanh Đoàn, ông Đỗ Nguyễn Văn Duy Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Như Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Lộc; ông Hoàng Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 82/2025/TB-HS ngày 09/5/2025 và số 96/TB-HS ngày 26/5/2025, đối với các bị cáo:

  1. Trần Trí T (còn có tên gọi khác Q), sinh ngày 30 tháng 7 năm 2003, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Số E, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Trí D và bà Lê Thị Ngọc P; chưa có vợ, con;
  2. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).

    Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trần Trí T: Ông Nguyễn Thanh T1, Luật sư; Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

  3. Nguyễn Hoàng Đăng K, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2002, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số C đường N, khu Đ, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê;
  4. trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Hoàng N và bà Nguyễn Thị Phương U; chưa có vợ con;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).

    Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K: Ông Phan Văn H1, Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang (có mặt).

  5. Dương Hoàng K1 (còn có tên gọi khác Ba L1), sinh ngày 02 tháng 6 năm 2002, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Số A, tổ A, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; Cha không rõ, mẹ bà Dương Thị Ngọc A; chưa có vợ con;
  6. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo Dương Hoàng K1 bị bắt tạm giam từ ngày 05/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh An Giang (có mặt).

  7. Phạm Nguyễn Thái B, sinh ngày 23 tháng 10 năm 2002, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: 4/8, Lê Triệu K2, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Phạm Phong V và bà Nguyễn Thị Mỹ L2; chưa có vợ, con;
  8. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh An Giang (có mặt).

  9. Nguyễn Chí T2, sinh ngày 14 tháng 02 năm 1997, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Số A, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn T3 và bà Trần Thị Hồng H2; chưa có vợ, con;
  10. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).

  11. Dương Đoan A1, sinh ngày 25 tháng 7 năm 2005, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Số B, Võ Văn H3, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Dương Chí Q1 và bà Lê Thị Quang T4; chưa có vợ, con;
  12. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/6/2024 đến ngày 09/01/2025, được tại ngoại cho đến nay (có mặt)

  13. Huỳnh N1, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1999, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Số B, đường số B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Huỳnh Thanh H4 và bà Lê Thu T5; chồng là Trần Quốc T6; có 02 con;
  14. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

  15. Thái Nguyễn Tuyết N7, sinh ngày 05 tháng 02 năm 2003, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Số B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Thái Thanh T7 và bà Nguyễn Thị Diệp Minh T8; chưa có chồng, con;
  16. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

  17. Châu Hoàng N2, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2002, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Số A, khóm P, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Châu Hoàng Á và bà Dương Diệu H5; V1 là Trần Thảo V2; có 01 con;
  18. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/6/2024 đến ngày 09/01/2025 được tại ngoại; hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác (có mặt).

  19. Lê Thị Thanh T9, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1996, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Số F, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 04/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Văn H6 và bà Ngô Ngọc N3; Chưa có chồng, con;
  20. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/6/2024 đến ngày 09/01/2025, được tại ngoại cho đến nay (có mặt).

  21. Trần Thảo V2, sinh ngày 29 tháng 5 năm 2005, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: F, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 09/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Trí D và bà Lê Thị Ngọc P; C là Châu Hoàng N2; có 01 con;
  22. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại:

  • Nguyễn Hoàng Đăng K, sinh năm 2002; địa chỉ Số C đường N, khu Đ, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
  • Thái Nguyễn Tuyết N7, sinh năm 2003; địa chỉ Số B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
  • Ngô Kim P1, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (chỗ ở hiện nay: Số A, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang), (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị Ngọc P2, sinh năm 1987; địa chỉ Số C, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (mẹ ruột bị cáo T), vắng mặt.

Người làm chứng: Nguyễn Chí T10; Mai Lê K3; Nguyễn Thành N4; Nguyễn Ngọc Tường V3; Phạm Long H7; Huỳnh Kim N5 đều có mặt; Nguyễn Tiến L3; Nguyễn Quang H8; Mai Lê K3; Nguyễn Chí T10; Trương Gia B1; Trịnh Kim K4; Nguyễn Khương D1; Nguyễn Ngọc Kim N6, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 01/6/2024, nhóm của Châu Hoàng N2, Trịnh Kim K4, Trần Trí T, Trần Thảo V2 (vợ của N2), Nguyễn Khương D1, Nguyễn Ngọc Kim N6 ngồi uống nước giải khát tại quán “WALL” trên vỉa hè đường H thuộc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Lúc này trong quán có nhóm của Thái Nguyễn Tuyết N7, Huỳnh Kim N5, Trương Gia B1, Nguyễn Ngọc Tường V3 cũng ngồi uống cà phê gần với nhóm của T. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, nhóm của N7 ra về, N7 vô tình làm ngã xe mô tô của N2, N2 đi ra dựng xe lên, N7 xin lỗi rồi cùng cả nhóm ra về. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N7 và N5 quay lại quán “WALL” mua nước uống thì Trịnh Kim K4 trong quán đi ra nói chuyện và cãi nhau với N5, được mọi người can ngăn nên N5, N7 bỏ đi đến C thuộc phường M, thành phố L, Nhiều điện thoại nói cho Huỳnh N1 (chị của N5) biết và kêu Như đến gặp N5 và N7. Lúc này, N7 điện thoại cho K4 để giải hòa, bị N1 giật lấy điện thoại nói chuyện với K4, hẹn đến khu vực khóm N để nói chuyện. Đến nơi, nhóm của N7 có 12 người, gồm: N7, Huỳnh N1, Nhiều, Trương Gia B1, Tường V3, Dương Đoan A1, Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1 (B), Ngô Kim P1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2, Mai Lê K3 (B); nhóm của K4 có 05 người, gồm: K4, N2, Thảo V2, D1, N6 gặp nhau nói chuyện. Cùng lúc, Lê Thị Thanh T9 (dì của Thảo V2) đi ngang nên đến hỏi chuyện Thảo V2 thì bị K chụp tay đẩy T9 ra, nên 02 nhóm xông vào đánh nhau. K3 dùng tay, K, N1, N7, Đoan A1 dùng nón bảo hiểm có sẵn trên xe đánh nhau với N2, T9; Thảo V2 cũng đánh lại bằng nón bảo hiểm. Cùng lúc, Tô Hữu B2 đi đến thấy K đánh T9 nên chạy đến dùng tay đánh 01 cái vào vai Khoa; Trần Trí T đi đến, thấy nhóm của K4 (bạn của T) bị đánh nên T lấy một khẩu súng rulô bắn khoảng 05 - 06 phát vào nhóm của N7 làm N7, K, P1 trúng đạn bị thương được mọi người can ngăn nên K, P1, K3 về nhà của P1 gần đó, còn N7 đến Bệnh viện Đ cấp cứu và điều trị. Riêng, T cầm súng bỏ đi rồi ném bỏ súng xuống cầu D.

Sau đó, K điện thoại rủ Phan Trọng N8 (bạn của K) đi tìm T trả thù. Để thực hiện, K lấy khẩu súng loại bắn đạn pháo cất giấu trong người và rủ thêm K3 cầm 02 vỏ chai bia, B cầm đoạn tuýp sắt, T2 cầm dao tự chế, Mai Lê K3, Phạm Long

H7, Phước N9, N8 và 05 người người (chưa rõ họ, tên địa chỉ) mang theo dao tự chế, chĩa 3 đi tìm T. Khi đi được một đoạn thì H7 và K4 bỏ về, còn lại K, N8, K3, B, T2, Phước N9, N8 và 05 người người khác (chưa rõ họ, tên địa chỉ) đi đến khu vực khóm N, phường M hô hào, la hét, chửi thề tìm T nhưng không gặp rồi nhóm bỏ về. Sau đó, K đến Bệnh viện Đ điều trị vết thương, đến ngày 07/6/2024, ngày 10/6/2024, K, P1, N7 ra viện.

Ngày 05/6/2024 và ngày 15/7/2024, T, B, K3, T9, Như, Đoan A1, N2, K, T2, N7, V2 bị khởi tố, điều tra.

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 416/24/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Hoàng Đăng K, sinh năm 2002, kết luận:

1. Các kết quả chính:

  • Xây xát da dạng mảng vùng trán trái, kích thước (1,5 x 0,3)cm, xung quanh phù nề kích thước (05 x 05)cm: cơ chế do vật tày gây nên.
  • Vết ửng đỏ da vùng cổ sau bên phải, kích thước (03 x 02)cm: cơ chế do vật tày gây nên.
  • Vết thương mặt trước cổ chân phải, kích thước (01 x 0,8)cm, bờ không sắc (Vết mổ đầu trên kích thước 03cm, vết mổ đầu dưới kích thước 03cm): cơ chế do vật tày có gia tốc gây nên.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (tạm thời) do thương tích gây nên của Nguyễn Hoàng Đăng K tại thời điểm giám định (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là 03%.

Khi các thương tích còn lại của Nguyễn Hoàng Đăng K ổn định, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung. (Bút lục số 81 - 83).

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống (bổ sung) số 416BS/24/KLTTCT-TTPY ngày 28/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Hoàng Đăng K, sinh năm 2002, kết luận bổ sung:

1. Các kết quả chính:

  • Xây xát da dạng mảng vùng trán trái để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (1,5 x 0,1)cm, tỷ lệ 01%.
  • Vết ửng đỏ da vùng cổ sau bên phải hiện tại không để lại thương tích, tỷ lệ 00%, cơ chế do vật tày gây nên.
  • Sẹo vết thương trùng với sẹo mổ lấy dị vật, mặt trước cổ chân phải, kích thước (06 x 0,6)cm, tỷ lệ 03%, cơ chế do vật tày có gia tốc gây nên (phần sẹo đã cho tỷ lệ ở Bản kết luận số 416/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024): Gây lún nhẹ mặt trước 1/3 dưới xương chày phải, tỷ lệ 02%.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (bổ sung) do thương tích gây nên của Nguyễn Hoàng Đăng K tại thời điểm giám định (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là 03%.

Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 416/24/KLTTCT – TTPY ngày 07/6/2024 và kết quả giám định bổ sung nêu trên, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Hoàng Đăng K (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là 06%. (Bút lục số 85 - 87).

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 417/24/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang đối với Ngô Kim P1, sinh năm 2002, kết luận:

1. Các kết quả chính:

  • Vết thương mặt sau trong 1/3 trên đùi trái, kích thước (1,4 x 0,6)cm, bờ không sắc (vết mổ mặt trước 1/3 giữa đùi trái dài 6,5cm).

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (tạm thời) do thương tích gây nên của Ngô Kim P1 tại thời điểm giám định (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là 01%.

2.2. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích trên do vật tày có gia tốc gây nên.

Khi các thương tích còn lại của Ngô Kim P1 ổn định, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung. (Bút lục số 108 - 110).

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống (bổ sung) số 417BS/24/KLTTCT-TTPY ngày 28/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Ngô Kim P1, sinh năm 2002, kết luận bổ sung:

1. Các kết quả chính:

  • Sẹo mặt sau 1/3 trên đùi trái, kích thước (1,3 x 01)cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01% (đã cho tỷ lệ ở Bản kết luận số 417/24/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024).
  • Sẹo mổ mặt trước 1/3 giữa đùi trái, kích thước (06 x 0,3)cm, tỷ lệ 02%.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (bổ sung) do thương tích gây nên của Ngô Kim P1 tại thời điểm giám định (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là 02 %.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại Bản kết luận số 417/24/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A kết luận là 01%.

Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 417/24/KLTTCT – TTPY ngày 07/6/2024 và kết quả giám định bổ sung nêu trên, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Ngô Kim P1 (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là 03%. (Bút lục số 112 - 114).

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 418/24/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Thái Nguyễn Tuyết N7, sinh năm 2003, kết luận:

1. Các kết quả chính:

  • Vết thương mặt ngoài sau 1/3 trên đùi phải, dài 1,3cm, bờ không sắc (vết mổ mặt sau trong 1/3 trên đùi phải dài 04cm).
  • Vết thương trùng với vết mổ mặt ngoài mông trái đến 1/3 trên đùi trái, dài 14cm (vết mổ dẫn lưu mặt ngoài 1/3 trên đùi trái, dài 1,2cm).

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (tạm thời) do thương tích gây nên của Thái Nguyễn Tuyết N7 tại thời điểm giám định (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là 04%.

2.2. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích trên do vật tày có gia tốc gây nên.

Khi các thương tích còn lại của Thái Nguyễn Tuyết N7 ổn định, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung. (Bút lục số 140 - 142).

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống (bổ sung) số 418BS/24/KLTTCT-TTPY ngày 28/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Thái Nguyễn Tuyết N7, sinh năm 2003, kết luận bổ sung:

1. Các kết quả chính:

  • Sẹo mặt mặt ngoài sau 1/3 trên đùi phải, kích thước (1,1 x 0,3)cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01% (đã cho tỷ lệ ở Bản kết luận số 418/24/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024).
  • Sẹo mổ mặt sau trong trước 1/3 trên đùi phải, kích thước (3,5 x 0,5)cm, tỷ lệ 02%.
  • Sẹo vết thương trùng với sẹo vết mổ mặt ngoài mông trái đến 1/3 trên đùi trái, kích thước (14 x 0,5)cm, là sẹo có kích thước lớn, tỷ lệ 03% (đã cho tỷ lệ ở Bản kết luận số 418/24/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024).
  • Sẹo mổ dẫn lưu mặt ngoài 1/3 trên đùi trái, kích thước (1,5 x 0,3)cm, tỷ lệ 01%.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (bổ sung) do thương tích gây nên của Thái Nguyễn Tuyết N7 tại thời điểm giám định (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là 03 %.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại Bản kết luận số 418/24/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A kết luận là 04%.

Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 418/24/KLTTCT - TTPY ngày 07/6/2024 và kết quả giám định bổ sung nêu trên, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Thái Nguyễn Tuyết N7 (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là 07%. (Bút lục số 144 - 1464).

* Kết luận giám định số 3500/KL-KTHS ngày 10/6/2024 và Công văm số 816/CV ngày 12/7/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

  • 04 đầu đạn gửi giám định là đầu đạn của loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5)mm, không phải vũ khí quân dụng, sử dụng để bắn được với các loại súng như: K55, TOZ8, các loại súng được chế tạo thủ công có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng... Đặc điểm dấu vết trên 04 đầu đạn này không đủ cơ sở truy nguyên khẩu súng cụ thể bắn ra.
  • 04 đầu đạn gửi giám định là đầu đạn của loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5)mm. Loại đạn này nếu bắn với súng phù hợp trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.
  • Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 63B1-331.41 và giấy chứng nhận đăng ký xe tên của K3, 04 đầu đạn, 01 khẩu súng ổ quay đồ chơi nguy hiểm bắn đạn pháo và đồ vật liên quan.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị Ngọc P (mẹ ruột bị cáo T) đã bồi thường cho N7 15.000.000 đồng; P1 và K, mỗi người 30.000.000 đồng. N7, P1, K không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSAG-P2 ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố đối với Trần Trí T về tội “Giết người” quy định điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Dương Đoan A1, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần

Thảo V2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Trần Trí T; Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2; Dương Đoan A1, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần Thảo V2, đồng khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trí T khai nhận, khi thấy nhóm của Trịnh Kim K4 (bạn T) bị đánh nên bị cáo T lấy một khẩu súng rubô bắn khoảng 05-06 phát vào nhóm của N7 là N7, P1, K trúng đạn bị thương, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Gia đình bị báo T12 bồi thường cho N7 15.000.000 đồng, P1 và K mỗi người 30.000.000 đồng.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1 khai nhận có tham gia đánh nhau, sau đó, K lấy khẩu súng loại bắn đạn pháo rủ K1 (cầm 02 vỏ chai bia), B (cầm đoạn tuýp sắt), T2 (cầm dao tự chế) cùng những người khác quay trở lại khu vực khóm N hô hào la hét, chửi thề tìm T để trả thù, gây rối trật tự công cộng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

Các bị cáo Dương Đoan A1, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần Thảo V2 đồng khai nhận có tham gia đánh nhau gây rối trật tự công cộng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

Các bị hại N7, P1 và K đã nhận số tiền do bà Lê Thị Ngọc P (mẹ ruột bị cáo T) đã bồi thường cho N7 15.000.000 đồng; P1 và K, mỗi người 30.000.000 đồng. N7, P1, K không yêu cầu bị cáo T bồi thường thêm. Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị Ngọc P vắng mặt, có lời khai tại Cơ quan điều tra như nội dung Cáo trạng nêu trên.

Các người làm chứng có mặt và vắng mặt đều khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo Trần Trí T; Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2; Dương Đoan A1, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần Thảo V2 vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trí T từ 14 năm tù đến 15 năm tù; về tội “Giết người”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K từ 03 đến 04 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Dương Hoàng K1 từ 03 đến 04 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm

Nguyễn Thái B từ 02 đến 03 năm tù Gây rối trật tự công cộng”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T2 từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Châu Hoàng Nhân T11 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, có khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam; Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Đoan A1 từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm; Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Huỳnh N1 từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm; Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thái Nguyễn Tuyết N7 từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm; Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh T9 từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thảo V2 từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Trí T.

Về trách nhiệm dân sự, gia đình bị cáo T đã bồi thường cho các bị hại K và P1, mỗi người 30.000.000 đồng, N7 15.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, nên không xem xét.

Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 04 đầu đạn, 01 khẩu súng ổ quay đồ chơi nguy hiểm bắn đạn pháo; 01 (Một) xe mô tô biển số 63B1-331.41 và giấy chứng nhận đăng ký xe của bị cáo Dương Hoàng K1 sử dụng vào việc phạm tội, số máy bị đục sửa và các vật chứng không có giá trị.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Trí T đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Trần Trí T về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K.

Bị cáo Trần Trí T, bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của các người bào chữa; đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác.

Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Các bị cáo Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2, Dương Đoan A1, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần Thảo V2 không bào chữa bổ sung gì khác. Lời cuối cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, một số người làm chứng vắng mặt mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Trần Trí T; Phạm Nguyễn Thái B, Dương Hoàng K1, Lê Thị Thanh T9, Huỳnh N1, Dương Đoan A1, Châu Hoàng N2, Nguyễn Hoàng Đăng K, Nguyễn Chí T2, Thái Nguyễn Tuyết N7, Trần Thảo V2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 01/6/2024 tại khu vực khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo Trần Trí T có hành vi dùng súng (không phải vũ khí quân dụng) bắn trúng người của Thái Nguyễn Tuyết N7, Nguyễn Hoàng Đăng K, Ngô Kim P1 nhằm tước đoạt mạng sống của con người. N7, K, P1

không chết mà bị thương tích với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với N7 là 07%, Khoa 06% và P1 03% là do được cứu chữa kịp thời.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2 đã có hành vi dùng hung khí (súng bắn đạn, 02 vỏ chai bia, ống tuýp sắt, dao tự chế) đi đến khu vực khóm N, phường M, thành phố L, hô hào, la hét, chửi thề tìm T để trả thù. Các bị cáo Dương Đoan A1, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần Thảo V2 có hành vi dùng tay, nón bảo hiểm tham gia đánh nhau gây rối trật tự công cộng.

Hành vi của bị cáo Trần Trí T đã phạm tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, n Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng).

Hành vi của Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017; có khung hình phạt tù bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng).

Hành vi của Dương Đoan A1, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần Thảo V2 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017; có khung hình phạt phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo T xâm phạm đến tính mạng của con người, đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ. Đối với hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2, Dương Đoan A1, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần Thảo V2 gây rối trật tự công công, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Trần Trí T được xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích của tội phạm dùng hung khí nguy hiểm là súng ru lô bắn, nhằm tước bỏ tính mạng của nhiều người; cùng lúc thực hiện hành vi giết “02 người trở lên”; các bị hại N7, P1, K không chết là do thương tích của N7 là 7%, P1 3%, Khoa 6% và được cứu chữa kịp thời, thể hiện “tính chất côn đồ” của bị cáo nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung được quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K (cầm súng bắn đạn), Dương Hoàng K1 (cầm 02 vỏ chai bia), Phạm Nguyễn Thái B (cầm túp sắt), Nguyễn Chí T2 (cầm dao tự chế) la hét, chửi thề tìm bị cáo T để trả tù, hành vi của các bị cáo “ Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách” là tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ Luật hình sự. Lê Thị Thanh T9, Huỳnh N1, Dương Đoan A1, Châu Hoàng N2, Thái Nguyễn Tuyết N7, Trần Thảo V2 đã thực hiện hành vi dùng nón bảo hiểm tham gia đánh nhau. Hành vi của các bị cáo với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm gây rối trật tự công cộng theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo K, K1 có hành vi tham gia đánh nhau, Sau đó K (lấy khẩu súng) rủ K1 (cầm 02 vỏ chai bia), tiếp tục quay trở lại la hét, chửi thề tìm T trả thù; nên các bị cáo K, K1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bản thân các bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; Đối với bị cáo T sau khi thực hiện hành vi phạm tội, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, các bị hại K, N7, P1, đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T; bị cáo K thuộc hộ nghèo; bị cáo N1 có người thân bà ngoại có công cách mạng; bị cáo N7 đang nuôi con dưới 01 năm tuổi; Các bị cáo A, Như, N7, N2, T9, V2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo K, N7, P1 cũng là bị hại trong vụ án. Bị cáo T có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; K, B, K1, T2 có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Bộ luật Hình sự năm 2015; Lê Thị Thanh T9, Huỳnh N1,Dương Đoan A1, Châu Hoàng N2, Thái Nguyễn Tuyết N7, Trần Thảo V2 có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bị cáo Trần Trí T được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng hậu quả do tội phạm T gây ra là đặc biệt nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự quy định: “Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”. Trong vụ án này, thương tật của các bị hại N7 là 7%, K là 6%, P1 3%, về trách nhiệm dân sự đã được các bên thỏa thuận bồi thường xong, các bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung; mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2, hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng; K và K1 phạm tội nhiều lần. Cần chấp nhận quan điểm đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo K, K1, B,T2 ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Châu Hoàng N2, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo được tại ngoại lại tiếp tục phạm tội cố ý gây thương tích, hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác. Cần chấp nhận mức hình phạt tù mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo N2.

Các bị cáo Lê Thị Thanh T9, Huỳnh N1, Dương Đoan A1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Trần Thảo V2, có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, thời gian tại ngoại các bị cáo cũng chấp hành tốt chính sách pháp luật ở địa phương; nếu không bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng không nguy hại cho xã hội. Cần chấp nhận quan điểm đại diện Viện Kiểm sát cho các bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa lỗi lầm.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt chính là phạt tù có thời hạn ở mức tối đa đã nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Trần Trí T.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình tố tụng các đương sự và bị cáo đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa, các bị hại không yêu cầu bồi bị cáo Trần Trí T thường gì thêm. Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Thu giữ 04 đầu đạn giám định, 01 khẩu súng bắn đạn pháo và 02 vòng đạn pháo bằng nhựa màu đỏ; 01 đoạn kim loại màu đen dài 121cm, có gắn lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 24cm; 01 cây dao tự chế dài 42cm, cán dao bằng nhựa dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm (có bao da); 02 vỏ chai bia sài gòn; 01 gậy sắt loại 03 khúc là công cụ dùng vào việc phạm tội; 01 áo tay dài màu trắng, 01 quần ngắn màu đen của Phạm Nguyễn Thái B; 01 áo thun ngắn màu đỏ của Dương Hoàng K1; 01 áo thun tay ngắn màu đen, 01 quần jean dài màu đen của Nguyễn Chí T2; 01 áo thun tay ngắn màu đen, 01 quần jean dài màu xanh của Nguyễn Hoàng Đăng K; 01 mũ bảo hiểm (tất cả đã qua sử dụng; không có giá trị sử dụng. Xét tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng nêu trên.

Đối với 01 (Một) xe mô tô kiểu dáng Dream, màu nâu, biển số 63B1-331.41; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 015756 tên chủ xe Nguyễn Văn N10, biển số đăng ký 63B1-331.41 do Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 09/3/2016; bị cáo Dương Hoàng K1 khai nhận bị cáo mượn xe mô tô trên (có sẵn giấy chứng nhận đăng ký xe tên Nguyễn Văn N10 trong cốp xe) của người bạn không rõ họ tên địa chỉ. Theo Kết luận giám định số 1524/KL-KTHS ngày 27/10/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh A xe mô tô trên, số máy bị đục, sửa. Theo biên bản xác minh ngày 05/12/2024 của Công an xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang,

ông Nguyễn Văn N10 không còn sinh sống tại địa phương, không làm việc được, không rõ ở đâu; từ trước đến nay Công an xã không tiếp nhận tin báo phạm tội liên quan xe mô tô trên. Xét, xe mô tô trên không rõ nguồn gốc và chủ sở hữu nên tịch thu tiêu hủy cùng 01 giấy đăng ký xe nêu trên.

[7] Đối với những vấn đề có liên quan:

  • Tô Hữu B2 đi ngang qua thấy T9 (bạn của B2) bị K chụp tay định đánh nên chạy đến dùng tay đánh 01 cái vào vai Khoa 01 cái rồi bỏ đi, không gây thương tích nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B2 về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.
  • Phạm Long H7 và Mai Lê K3 có hành vi đi cùng K tìm T để đánh nhau. Tuy nhiên, trên đường đi, H7, K3 bỏ về, tự ý chấm dứt hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ.
  • Phan Trọng N8 có hành vi cùng K tìm đánh T. Hiện, N8 đã chết, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” là đúng pháp luật.
  • Đối với người tên Phước N9 (chưa rõ họ, địa chỉ) và 05 người khác (chưa rõ họ tên địa chỉ), Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
  • Sau khi gây án, bị can T đã ném bỏ cây súng xuống sông khu vực cầu D thuộc phường M, thành phố L, không tìm được, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý T về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

[7] Về án phí: Các bị cáo Trần Trí T; Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2; Dương Đoan A1, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần Thảo V2, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Trí T phạm tội “Giết người” (chưa đạt); các bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2; Dương Đoan A1, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần Thảo V2 về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

1. Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trần Trí T 14 (Mười bốn) năm tù, về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06/6/2024).

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K 03 (Ba) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/7/2024).

3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Dương Hoàng K1 03 (Ba) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/6/2024).

4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Thái B 02 (Hai) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/6/2024).

5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T2 02 năm (Hai) tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/7/2024).

6. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Dương Đoan A1 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Đoan A1 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

7. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Huỳnh N1 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh N1 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

8. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Châu Hoàng N2 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm tạm giam 16/4/2025 (có khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2024 đến ngày 09/01/2025).

9. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Thái Nguyễn Tuyết N7 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Thái Nguyễn Tuyết N7 cho Ủy ban nhân dân phường B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

10. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh T9 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Thị Thanh T9 cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

11. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trần Thảo V2 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Thảo V2 cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 590, Điều 591 của Bộ luật Dân sự: Xác nhận bị cáo Trần Trí T (do bà Lê Thị Ngọc P (mẹ ruột bị cáo T) bồi thường thiệt hại cho N7 số tiền 15.000.000 đồng, P1 và K mỗi người 30.000.000 đồng (đã giao nhận xong).

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong (bên trong 04 đầu đạn giám định), 01 gói niêm phong (bên trong khẩu súng bắn đạn pháo và 02 vòng đạn pháo bằng nhựa màu đỏ); 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, màu nâu, biển số 63B1-331.41, số khung 171019, số máy 171019; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 015756 tên chủ xe Nguyễn Văn N10, biển số đăng ký 63B1-331.41; 01 đoạn kim loại màu đen dài 121cm, có gắn lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 24cm; 01 cây dao tự chế dài 42cm, cán dao bằng nhựa dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm (có bao da); 02 vỏ chai bia sài gòn; 01 áo tay dài màu trắng, 01 quần ngắn màu đen của Phạm Nguyễn Thái B; 01 áo thun ngắn màu đỏ của Dương Hoàng K1; 01 áo thun tay ngắn màu đen, 01 quần jean dài màu đen của Nguyễn Chí T2; 01 áo thun tay ngắn màu đen, 01 quần jean dài màu xanh của Nguyễn Hoàng Đăng K; 01 mũ bảo hiểm; 01 gậy sắt loại 03 khúc (tất cả đã qua sử dụng).

(Đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A và Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Trần Trí T; Nguyễn Hoàng Đăng K, Dương Hoàng K1, Phạm Nguyễn Thái B, Nguyễn Chí T2; Dương Đoan Anh, Huỳnh N1, Thái Nguyễn Tuyết N7, Châu Hoàng N2, Lê Thị Thanh T9, Trần Thảo V2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đã giải thích chế độ án treo cho bị cáo./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Phòng lưu trữ hồ sơ - Công an tỉnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu Tòa Hình sự; Văn phòng; hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về giết người và gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người và Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger