|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 10 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hà Quang Văn.
Ông Bùi Khắc Thái.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2025/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị Phương T, sinh năm 1983.
Căn cước công dân số: [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/6/2021.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã G, tỉnh Ninh Bình.
Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình.
Bị đơn: Anh Đinh Quang H, sinh năm 1982.
Căn cước số: [...] do Bộ C1 cấp ngày 04/12/2024.
Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã G, tỉnh Ninh Bình.
(Tại phiên tòa chị T vắng mặt đã có đơn đề nghị xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/7/2025, Bản tự khai ngày 04/8/2025 nguyên đơn chị Dương Thị Phương T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Quang H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình (nay là: Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Ninh Bình) ngày 30/11/2011 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn Đ, xã G, tỉnh Ninh Bình). Từ khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn dẫn tới vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, đánh chửi lẫn nhau. Nguyên nhân chính dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng chị là do vợ chồng không cùng phát triển kinh tế chung trong gia đình. Bản thân anh H thường xuyên uống rượu, không tu chí làm ăn để chăm lo cho hạnh phúc gia đình. Đến tháng 02/2025, sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình sinh sống. Anh H có đến đón và nhiều lần bảo chị quay về nhưng chị cương quyết không về. Từ đó, anh chị sống ly thân không ai quan tâm tới ai nữa. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự sâu sắc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Quang H.
Về con chung: Chị Dương Thị Phương T xác định chị và anh Đinh Quang H có 02 con chung là các cháu Đinh Quang N, sinh ngày 03/02/2013 và Đinh Quang C, sinh ngày 29/11/2014. Hiện 02 cháu Quang N, Quang C đang ở với chị T. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 cháu Quang N, Quang C cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Dương Thị Phương T yêu cầu anh Đinh Quang H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị mỗi tháng 1.500.000đ/01 cháu, kể từ thời điểm bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 15/9/2025, chị T thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho chị vì chị làm công nhân mức thu nhập của chị đủ để nuôi 02 con mà không cần anh H cấp dưỡng.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Dương Thị Phương T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn đề nghị xử vắng mặt ngày 07/10/2025, chị Dương Thị Phương T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đinh Quang H. Về con chung: chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung là các cháu Đinh Quang N, sinh ngày 03/02/2013 và Đinh Quang C, sinh ngày 29/11/2014. Hiện 02 cháu Quang N, Quang C đang ở với chị T. Chị T không yêu cầu anh Đinh Quang H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Về tài sản chung, công nợ chung: chị Dương Thị Phương T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 12/8/2025 anh Đinh Quang H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Quang H xác định thời điểm đăng ký kết hôn, địa điểm chung sống của vợ chồng anh đúng như chị T đã trình bầy ở trên. Tuy nhiên, anh H xác định từ khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh hạnh phúc được 13 năm thì phát sinh mâu thuẫn dẫn tới vợ chồng có xảy ra va chạm, cãi vã do vợ chồng không thống nhất việc nuôi dạy các con. Hiện chị T đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn T, xã G từ ngày 24/7/2025. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ cùng nuôi dạy các con. Hiện nay anh vẫn còn nhiều tình cảm với vợ con.
Về con chung: Anh Đinh Quang H xác định anh và chị Dương Thị Phương T có 02 con chung là các cháu Đinh Quang N, sinh ngày 03/02/2013 và Đinh Quang C, sinh ngày 29/11/2014. Hiện 02 cháu Quang N, Quang C đang ở với chị T. Do anh H không đồng ý ly hôn nên anh chưa có ý kiến về con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Đinh Quang H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh H không có yêu cầu phản tố hay đề nghị gì khác.
Ý kiến của cháu Đinh Quang N: Cháu có nguyện vọng được ở với mẹ vì khi ở chung nhà với bố thì bố hay đánh ba mẹ con cháu. Cháu ở vói mẹ sẽ được mẹ chăm sóc tốt hơn.
Ý kiến của cháu Đinh Quang C: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ vì mẹ yêu thương chăm sóc anh em cháu.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình đã tiến hành giải quyết vụ án theo quy định. Do bị đơn anh Đinh Quang H không đến tham gia phiên hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 5, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Phương T. Xử ly hôn giữa chị Dương Thị Phương T và anh Đinh Quang H.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao 02 cháu Đinh Quang N, sinh ngày 03/02/2013 và Đinh Quang C, sinh ngày 29/11/2014 cho chị Dương Thị Phương T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Đinh Quang H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Dương Thị Phương T.
- Về án phí ly hôn: Chị Dương Thị Phương T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã G, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3]. Về sự vắng mặt của chị Dương Thị Phương T, anh Đinh Quang H: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Dương Thị Phương T, anh Đinh Quang H theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho chị T, anh H của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình là hợp pháp. Tại phiên tòa, chị T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xử vắng; anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh H.
[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Dương Thị Phương T và anh Đinh Quang H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình (nay là: Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Ninh Bình) ngày 30/11/2011 trên cơ sở tự nguyện. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T, anh H là hợp pháp. Quá trình chung sống, những năm đầu cuộc sống vợ chồng chị T, anh H hạnh phúc. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây vợ chồng chị T, anh H thường xuyên xảy ra va chạm, cãi vã. Điều này được thể hiện qua Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Ninh Bình ngày 09/9/2025 và Bản tự khai ngày 19/9/2025 của ông Đinh Quang T1 là bố đẻ anh H. Ông T1 xác định quá trình sinh sống hai vợ chồng chị T, anh H nhiều lần xảy ra cãi vã, đánh chửi nhau vợ chồng ông đã nhiều lần hòa giải, can thiệp nhưng mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh H vẫn diễn ra. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù anh H không đồng ý ly hôn nhưng khi Tòa án thông báo hòa giải anh H không tới tham gia phiên hòa giải chứng tỏ anh H không có thiện trí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị T, anh H chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn anh H là có căn cứ, phù hợp khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2]. Về con chung: Chị Dương Thị Phương T và anh Đinh Quang H đều xác định anh chị có 02 con chung là các cháu Đinh Quang N, sinh ngày 03/02/2013 và Đinh Quang C, sinh ngày 29/11/2014. Hiện 02 cháu Quang N, Quang C đều đang ở với chị T. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh H chưa có ý kiến gì về con chung do anh không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay chị T khỏe mạnh, có công việc ổn định, đảm bảo chăm lo cho cuộc sống của các cháu. Mặt khác, cả 02 cháu Quang N, Quang C đều có nguyện vọng được ở cùng với chị T. Bản thân chị T lại có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không có ý kiến gì về việc nuôi con chung sau khi ly hôn. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định cho các cháu cần giao cháu Quang N, Quang C cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Dương Thị Phương T tự nguyện không yêu cầu anh Đinh Quang H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không buộc anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Dương Thị Phương T, anh Đinh Quang H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Dương Thị Phương T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; các Điều 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Dương Thị Phương T được ly hôn anh Đinh Quang H. Quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị Phương T và anh Đinh Quang H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Giao 02 cháu Đinh Quang N, sinh ngày 03/02/2013 và Đinh Quang C, sinh ngày 29/11/2014 cho chị Dương Thị Phương T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi 02 cháu Quang N, Quang C đủ 18 tuổi.
Anh Đinh Quang H không phải cấp dưỡng nuôi con chung là 02 cháu Đinh Quang N, Đinh Quang C cho chị Dương Thị Phương T.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Dương Thị Phương T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002649 ngày 31/7/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Ninh Bình.
- Quyền kháng cáo: Chị Dương Thị Phương T, anh Đinh Quang H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 30/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA HNGĐ SỐ 43 GIỮA CHỊ DƯƠNG THỊ PHƯƠNG T VÀ ANH ĐINH QUANG H
