Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 5 - 2025

“V/v tranh chấp về hôn nhân

và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐÓC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng, ông Nguyễn Thanh Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/QÐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Kha Minh P, sinh năm 1986, địa chỉ: tổ D, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1994, địa chỉ: số B, tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Kha Minh P trình bày: Ông P và bà N tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, áp lực cuộc sống và công việc. Hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không còn nên ông P yêu cầu ly hôn với bà N. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung tên Kha Phú Vinh Q, sinh ngày 05/8/2018 và Kha Chấn H, sinh ngày 26/10/2021. Ông P yêu cầu được nuôi dạy hai con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà N nhưng bà N không đến tham gia hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn ông P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

- Phát biểu của Kiểm sát viên:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh N vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, qua lời trình bày của ông P thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do áp lực về kinh tế, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bà N đã về nhà cha mẹ sinh sống từ tháng 10/2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng, hàn gắn tình cảm gia đình, nhưng bà N không tham gia, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông P, đến nay vợ chồng vẫn chưa thể hàn gắn. Từ đó cho thấy, bà N không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, có kéo dài cuộc hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt, nên chấp nhận yêu cầu của ông P được ly hôn với bà N.

Con chung: Có 02 con chung tên Kha P1 Vinh Quang sinh ngày 05/8/2018 và K sinh ngày 26/10/2021; hiện, các con chung đang sống cùng ông P và ông có yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, để ổn định cuộc sống các con chung, nên tiếp tục giao con chung cho ông P nuôi dạy là phù hợp; ghi nhận sự tự nguyện của ông P về việc không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi các con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Ông P khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Từ phân tích trên, căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Kha Minh P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh N; ông P được nuôi 02 con chung tên Kha P1 Vinh Quang sinh ngày 05/8/2018 và Kha Chấn H sinh ngày 26/10/2021; bà N không cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Ông P khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh N có nơi cư trú tại khu vực khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà N được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông P và bà N có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 01/3/2018 tại UBND phường N, thành phố C, tỉnh An Giang là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Ông P khai: nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, áp lực cuộc sống và công việc. Hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không thể hàn gắn nên ông P yêu cầu ly hôn với bà N.

Tòa án nhiều lần thông báo cho bà N và tiến hành hòa giải để tạo điều kiện cho ông P và bà N hàn gắn tình cảm nhưng bà N vẫn vắng mặt và không trình bày ý kiến cho Tòa án, cho thấy bà N không có thiện chí, mong muốn hàn gắn tình cảm. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa ông P và bà N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì không thể xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững mà còn kéo dài sự đau khổ cho ông P. Xét, cho ông Kha Minh P ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung tên Kha Phú Vinh Q, sinh ngày 05/8/2018 và Kha Chấn H, sinh ngày 26/10/2021. Hiện nay 02 con chung đang sống chung với ông P. Ông P yêu cầu được nuôi dạy hai con chung. Để đảm bảo môi trường sống ổn định của 02 con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao 02 con chung cho ông P tiếp tục nuôi dạy cho đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động.

[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông P không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của ông P.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Ông P khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Ông P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bà N không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Kha Minh P.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Kha Minh P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh N.
  2. Về con chung: Ông Kha Minh P được nuôi dưỡng 02 con chung tên Kha Phú Vinh Q, sinh ngày 05/8/2018 và Kha Chấn H, sinh ngày 26/10/2021 cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động. Bà Nguyễn Thị Ánh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Ông Kha Minh P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị Ánh N trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
  5. Ông Kha Minh P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006231 ngày 25/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, ông P đã nộp đủ án phí.

    Bà Nguyễn Thị Ánh N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

  6. Giấy chứng nhận kết hôn số 29 do UBND phường N, thành phố C, tỉnh An Giang cấp ngày 01/3/2018 không còn giá trị pháp lý.
  7. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông P có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà N là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS TP. Châu Đốc;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông P ly hôn với bà N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger