|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-6-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Kim Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Vân, bà Đình Thị Thanh Hải.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30-5-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/TB-XX ngày 16-6-2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N; sinh ngày: 15-8-1984; CCCD số: [...], cấp ngày: 06-3-2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH.
Địa chỉ: Thôn E, xã Đ, thành phố P, tỉnh Hà Nam.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H; sinh ngày 16-10-1969; CCCD số: [...], cấp ngày: 10-5-2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH.
Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
Nơi ở hiện nay: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
Chị N vắng mặt, đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh H vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 17-3-2025 và biên bản ghi lời khai ngày 12-5-2025, nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn ngày 06-01-2005 tại Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị tin đồng nghiệp nên đã vay tiền hộ, sau đó họ không có khả năng trả nợ nên đã cắt đứt liên lạc với chị khiến chị phải gánh trách nhiệm trả nợ thay. Anh H vì bức xúc, ức chế nên thường xuyên đay nghiến chị. Cũng trong giai đoạn này, công việc của anh H không được suôn sẻ, không ổn định làm phát sinh các khoản nợ khiến cho không khí gia đình thêm căng thẳng, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Anh H thường hay uống rượu. mỗi lần uống rượu say lại chì chiết, trách móc chị đủ điều nên vợ chồng liên tục cãi vã. Bản thân chị thừa nhận một phần lỗi khiến cho anh H trở lên như vậy nên chị cũng đã cố gắng nín nhịn, chấp nhận đi làm xa để kiếm tiền trả nợ và cải thiện kinh tế gia đình nhưng anh H không chịu hiểu được nỗi khổ tâm của chị, cho rằng chị vô trách nhiệm, nghi ngờ chị có mối quan hệ ngoài vợ chồng với người khác. Chị thấy rằng, anh H đã không còn tin tưởng vào chị, vợ chồng không có sự chia sẻ, không có tiếng nói chung. Anh chị đã sống ly thân kể từ năm 2022 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Đến nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, chị xác định tình cảm vợ chồng với anh H đã hết, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung là cháu Nguyễn Yến N1, sinh ngày 01-10-2006 và cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 03-10-2010. Cháu N1 đã đủ 18 tuổi nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với cháu Nguyễn Gia H1: Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 17-3-2025, chị đề nghị giao cháu H1 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị không cấp dưỡng nuôi con.
Tuy nhiên, từ khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án cho đến nay, mặc dù đã được giao nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án và các giấy triệu tập nhưng anh H đều không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến về việc nuôi con. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho con, chị xin thay đổi ý kiến về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H1 và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay, chị đang đăng ký thường trú tại thôn E, xã Đ, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Lý do chị chuyển nơi đăng ký thường trú là do năm 2023, mẹ đẻ chị mất, gia đình bên nhà ngoại không còn ai là thân thích ruột thịt ngoài một người em gái của chị bị bệnh thần kinh vẫn phải nhờ họ hàng chăm sóc nên năm 2024, chị buộc phải làm thủ tục chuyển nơi đăng ký thường trú về thôn E, xã Đ, thành phố P, tỉnh Hà Nam để làm các thủ tục pháp lý làm người giám hộ cho em chị. Cháu H1 đang ở cùng anh H, chị vẫn thường xuyên về nhà và chưa hề lơ là trách nhiệm làm mẹ với con. Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, chị cam đoan sẽ dành mọi điều kiện tốt nhất để chăm sóc, nuôi dưỡng con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các quyền, nghĩa vụ của đương sự đã được đảm bảo.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 271, Điều 273; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 03-10-2010 cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn anh Nguyễn Văn H có nơi đăng ký thường trú và nơi ở tại phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt, đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung.
[2.1] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái ngày 06-01-2005 là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N là từ những khó khăn về kinh tế và sự thiếu tin tưởng về tình cảm của anh H đối với chị. Anh H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến hòa giải nhưng đều không đến tham gia tố tụng tại Tòa án, thể hiện anh H không có thiện chí hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, có căn cứ xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị N được ly hôn anh H.
[2.2] Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Yến N1, sinh ngày 01-10-2006 và cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 03-10-2010. Cháu N1 đã đủ 18 tuổi nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị N đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H1 và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 17-3-2025, chị N đề nghị giao cháu H1 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; đề nghị của chị N cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu H1 được thể hiện tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 08-4-2025. Tuy nhiên, do anh H không đến tham gia tố tụng, không có ý kiến về việc nuôi con nên tại biên bản ghi lời khai ngày 12-5-2025, chị N xin thay đổi ý kiến về việc nuôi con. Chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H1 và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 12-5-2025, cháu H1 trình bày: “Trong trường hợp Tòa án hòa giải đoàn tụ không thành và bố cháu không đến Tòa án để tham gia tố tụng và không có ý kiến về việc nuôi cháu, cháu xin thay đổi nguyện vọng đề nghị Tòa án giao cháu cho mẹ cháu nuôi dưỡng”. Từ thời điểm ngày 12-5-2025 đến phiên tòa sơ thẩm, anh H không đến Tòa án làm việc mặc dù đã được triệu tập nhiều lần, không có ý kiến bằng văn bản thể hiện quan điểm đối với việc nuôi dưỡng cháu H1. Do đó, đề nghị của chị N về việc được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 là chính đáng và đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho cháu H1, đồng thời cũng là phù hợp với nguyện vọng, mong muốn của cháu nên đề nghị của chị N được chấp nhận. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về chia tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh H không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
[4] Về quyền kháng cáo: Chị N và anh H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[5] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- 1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- 2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 03-10-2010 cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.
Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- 3. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2024/0001632 ngày 17-3-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Chị N đã nộp đủ tiền án phí. Anh H không phải nộp tiền án phí.
- 4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Kim Anh |
Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H. 2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 03-10-2010 cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn
