Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CÁI RĂNG

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27/6/2025

V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vũ Linh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Văn Thành.

2/ Bà Võ Thị Bích Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 95/2025/TLST-HNGĐ ngày 15/4/2025 về việc “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 180/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 (Xin giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: Số C khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Số C khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số C khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày và yêu cầu: Ông và bà Nguyễn Thị T tự nguyện tìm hiểu và quen nhau sau đó tiến đến hôn nhân vào năm 2011, có làm lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận C, thành phố Cần Thơ vào ngày 02/02/2017. C sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, sau nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, hiện tại vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống giữa ông và bà T không có con chung, nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Ông và bà T tự thoả thuận với nhau, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 (hai) lần đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án trên theo quy định, cụ thể vào các ngày 07/5/2025 và ngày 26/5/2025, tuy nhiên bà T vắng mặt mà không có lý do. Cho nên, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân phường T, quận C, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 05, ngày 02/02/2017; nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. C sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, không đạt được hạnh phúc như mong muốn nên ông H có đơn yêu cầu xin ly hôn với bà T, quan hệ tranh chấp được xác định là “Xin ly hôn”, vụ việc được Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với nguyên đơn ông Nguyễn Văn H có yêu cầu giải quyết vắng mặt, xét đây là quyền của đương sự và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Xét yêu cầu của các đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của ông H và bà T là hợp pháp trên cơ sở tự nguyện, trong thời gian chung sống thì tình cảm vợ chồng có sự rạn nứt, mâu thuẫn với nhau, giữa hai người không tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn, không hàn gắn tiếp tục cuộc sống hôn nhân đã được xây dựng.

Xét thấy, để xây dựng hạnh phúc của gia đình, cũng như cuộc sống của vợ chồng phải được vun đắp từ tình cảm thật sự xuất phát từ bản thân của cả người vợ và người chồng, sự tự nguyện cả hai người đồng thời cùng duy trì, giữ gìn hạnh phúc đã xây dựng, cùng chăm lo cho nhau, nhưng ông H và bà T không làm được điều này. Ông H cho rằng không còn tình cảm, không thể hàn gắn, kiên quyết ly hôn với bà T, nếu gán ép, duy trì sẽ không mang lại hạnh phúc. Riêng đối với bị đơn bà T đã được Tòa án thông báo đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng vắng mặt mà không có lý do, không đưa ra ý kiến hay giải pháp nào để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau, chứng tỏ bà T không còn tha thiết duy trì cuộc hôn nhân với ông H. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa ông H và bà T không đạt được, đời sống chung thực tế không tồn tại, nghĩ nên cho ông H được ly hôn với bà T là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.

- Về con chung và nợ chung: Ông H cho rằng trong thời gian chung sống không có con chung và không có nợ chung, không có yêu cầu. Riêng bà T vắng mặt nên chưa được làm rõ, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.

- Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H có ý kiến là ông và bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu. Riêng bà T vắng mặt nên chưa được làm rõ, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.

[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn phần án phí phải nộp cho ông H.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, các Điều 147, 235, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

  2. Về con chung và nợ chung: Ông H cho rằng trong thời gian chung sống không có con chung và không có nợ chung, không có yêu cầu. Riêng bà T vắng mặt nên chưa được làm rõ, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.

  3. Về tài sản chung: Ông H có ý kiến là ông và bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu. Riêng bà T vắng mặt nên chưa được làm rõ, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.

  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn phần án phí phải nộp cho ông H.

  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm theo quy định./.

* Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Cần Thơ;
  • - VKSND Q.Cái Răng;
  • - Chi cục THADS Q. Cái Răng;
  • - UBND P. Thường Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Vũ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ về xin ly hôn

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger