Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 6 - 2025

V/v: “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Sỹ Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Hương Thảo và ông Hồ Hữu Thỏa.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Phương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 172/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 59/2025/QÐST-HNGĐ ngày 26/6/2025, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Hồ Hữu T, sinh năm 1960 - có mặt.
Nơi cư trú: Xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1975 – Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/6/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hồ Hữu T trình bày: Ông và bà Lê Thị N yêu nhau và quyết định đi đến hôn nhân. Vợ chồng đăng ký kết hôn ngày 11/5/2009 tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, cách sống. Bà N về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 11 năm 2009, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Nay ông xét thấy không còn tình cảm với bà N, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với với bà N.

Về con: Ông và bà N chung sống chưa có con chung, không có con nuôi. Trong thời gian vợ chồng ly thân, bà N có quan hệ với người khác sinh được 01 người con tên là cháu Lê Yến N1, sinh ngày 18/9/2011. Tuy cháu N1 sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với ông và bà N nhưng đây không phải là con chung của ông và bà N, trong giấy khai sinh của cháu N1 cũng đề tên mẹ là Lê Thị N và không có tên bố. Vì là con riêng của bà N nên ông đề nghị giao cháu N1 cho bà N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho bà N.

Ông Hồ Hữu T trình bày về ý kiến của bà N về con: Ông và bà N chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng 11/2009 cho đến nay. Việc bà N sinh con trong thời kỳ hôn nhân nhưng đây là con của bà N với người khác nên khi ly hôn ông không có yêu cầu giải quyết vấn đề con chung. Hiện nay cháu Lê Yến N1 mang họ mẹ (Lê Thị N) nên đề nghị bà N là người có trách nhiệm nuôi con của mình.

Về quan hệ tài sản chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản lấy lời khai ngày 17/6/2025, quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị N trình bày: Bà thống nhất như lời trình bày của ông T về thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Thời gian và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn như ông T trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống riêng cạnh bên nhà bố mẹ đẻ của ông T. Quá trình chung sống do mâu thuẫn nên bà đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống từ tháng 11 năm 2009. Vợ chống sống ly thân từ đó cho đến nay, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng. Tại biên bản ghi lời khai ngày 17/6/2025, bà N nhất trí ly hôn do vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Tuy nhiên, tại biên bản hòa giải ngày 19/6/2025 bà N trình bày bà đồng ý ly hôn với ông T nhưng không phải vào thời điểm này mà vào một thời điểm khác vì bà cho rằng ông T không tôn trọng bà, năm 2012 ông T đã làm đơn ly hôn với bà rồi đình chỉ vụ án, đến nay lại tiếp tục ly hôn với bà. Ngoài ra, bà được biết khi chưa ly hôn với bà ông Thu C người vợ khác, có đăng ký kết hôn hay không thì bà không biết.

Về con: Trong thời gian chung sống bà và ông T không có con chung, không có con nuôi. Trong thời gian vợ chồng ly thân, bà có 01 người con với người khác là cháu Lê Yến N1, sinh ngày 18/9/2011. Tuy cháu N1 sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với ông T nhưng đây không phải là con chung của bà và ông T nên bà đề nghị giao cháu N1 cho bà được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà không yêu cầu ông T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Bà Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả xác minh tại UBND xã Q: Ông Hồ Hữu T và bà Lê Thị N tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Q vào ngày 11/5/2009. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ vì không thông qua hòa giải tại địa phương. Quá trình chung sống bà N có một con chung là Lê Yến N1, sinh ngày 18/9/2011. Trong giấy khai sinh của cháu N1 đề tên mẹ là Lê Thị N nên địa phương không biết được đây là con chung hay con riêng. Ông T, bà N lao động tự do nên thu nhập như thế nào thì địa phương không biết. Hiện nay ông T yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Lê Thị N thì địa phương không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, 39 và Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Lê Thị N không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ lưa Tốtụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật HNGĐ; Điều 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

  • + Về tình cảm: Cho ông Hồ Hữu T được ly hôn bà Lê Thị N.
  • + Về con: Giao con là cháu Lê Yến N1, sinh ngày 18/9/2011 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
  • + Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
  • + Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/02016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn ông T là người trên 60 tuổi và thuộc trường hợp được miễn án phí nên miễn án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị N đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Hữu T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

[2] Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn bà Lê Thị N được Tòa án triệu tập phiên tòa lần thứ 2 hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bà N.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Hồ Hữu T và bà Lê Thị N là hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện trong thời gian chung sống thời gian đầu vợ chồng tình cảm bình thường, sau đó dần phát sinh mâu thuẫn do nhiều bất đồng và không có tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 11/2009 đến nay chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống. Ông T yêu cầu được ly hôn với bà N, bà N cũng đồng ý ly hôn với ông T nhưng không phải tại thời điểm này. Như vậy, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông T và bà N đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Hữu T cho ông T được ly hôn với bà N.

[4] Về con: Ông T và bà N đều thừa nhận trong thời gian chung sống vợ chồng không có con chung, không có con nuôi. Bà N có 01 người con với người khác là cháu Lê Yến N1, sinh ngày 18/9/2011. Vì cháu N1 là con riêng của bà N nên ông T và bà N thỏa thuận giao cháu N1 cho bà N được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, bà N không yêu cầu ông T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy sự bà N và ông T trình thống nhất trình bày về con của bà N nên cần chấp nhận, giao cháu N1 cho bà N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.

[5] Về quan hệ tài sản: Các đương sự không ai yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn được miễn tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39 và Điều 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Hữu T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Hồ Hữu T được ly hôn bà Lê Thị N.
  2. Về con: Giao cháu là Lê Yến N1, sinh ngày 18/9/2011 cho bà Lê Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
  3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho ông Hồ Hữu T.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND h. Quỳnh Lưu;
  • - Chi cục THADS h.Quỳnh Lưu;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Quỳnh Văn (nơi ĐKKH năm 2009);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Sỹ Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ông Hồ Hữu T Bị đơn: Bà Lê Thị N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger