Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/5/2025

V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lài Thị Thu Hà

Bà Nguyễn Thị Thùy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: ông Hồ Văn Trường– Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Tòa án Lâm Hà giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thùy V, sinh năm 1994

Địa chỉ: thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Anh Phan Tấn H, sinh năm 1989

Địa chỉ: thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng

(chị V có mặt, còn anh H có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị Thùy V trình bày: chị và anh H xây dựng gia đình với nhau năm 2014, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H ham chơi, không lo làm ăn kinh tế và quan tâm chăm sóc gia đình. Chị V đã nhiều lần nói chuyện với anh H để vợ chồng giải quyết mâu thuẫn và cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng anh H vẫn không thay đổi làm cho cuộc sống gia đình vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không giải quyết được. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên chị V và anh H đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể cải thiện được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị V xác định vợ chồng có một con chung là Phan Khánh L, sinh ngày 15/11/2016. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng nuôi con: tại đơn ly hôn chị có yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000đồng/tháng, tuy nhiên, nay chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị V xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Ngoài ra chị V không trình bày và yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Phan Tấn H trình bày: Anh và chị V kết hôn vào năm 2014 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Anh và chị V đã nhiều lần nói chuyện để vợ chồng giải quyết mâu thuẫn và cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên anh H và chị V đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Từ khi sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau mà mỗi người một cuộc sống riêng. Nay chị V làm đơn yêu cầu ly hôn với anh thì anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh H xác định vợ chồng có một con chung là Phan Khánh L, sinh ngày 15/11/2016, khi ly hôn anh H đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung, cho anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung anh H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đồng thời, anh H đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị V, xử cho chị V được ly hôn với anh H. Về con chung: giao con chung là Phan Khánh L, sinh ngày 15/11/2016 cho chị V có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: chị V phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Phan Tấn H có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Phan Tấn H theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị V và anh H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2014, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 20/12/2014. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, chị V xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể cải thiện được nên làm đơn khởi kiện ly hôn. Xét thấy, vợ chồng chị V, anh H phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường hay cãi nhau và do cả hai bên đều cố chấp nên không cố gắng tìm biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng mà đã tự sống ly từ năm 2023 cho đến nay không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy, thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể cải thiện được và chị V làm đơn ly hôn thì anh H cũng đồng ý đồng thời có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó nếu cứ tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự do tình cảm vợ chồng không còn khả năng để cải thiện, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị V, xử cho chị V được ly hôn với anh H.

[2] Về con chung: Chị Lê Thị Thùy V và anh Phan Tấn H có một con chung là Phan Khánh L, sinh ngày 15/11/2016. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, còn anh H cũng có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy, các đương sự đều có nguyện vọng được nuôi con là chính đáng, nhưng việc giao con cho bố hoặc mẹ có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục khi ly hôn cần phải căn cứ vào điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng của các bên cũng như đảm bảo theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi cho trẻ khi bố mẹ ly hôn. Qua xem xét thấy rằng, trong thời gian vợ chồng sống ly thân thì con chung vẫn được chị V chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Xét điều kiện của anh H hiện nay có việc làm và thu nhập nhưng lại không có nhà ở ổn định, còn chị V hiện nay thuận lợi hơn anh H là có việc làm và thu nhập ổn định và có sự hỗ trợ của gia đình bên ngoại trong việc chăm sóc con. Hơn nữa, cháu L hiện nay đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ không chung sống với nhau. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung là Phan Khánh L, sinh ngày 15/11/2016 cho chị Lê Thị Thùy V có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con, do chị V không yêu cầu nên không xem xét.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: chị V và anh H đều xác định không có và không yêu cầu gì nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: chị V phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị Thùy V, xử cho chị Lê Thị Thùy V và anh Phan Tấn H được ly hôn.

2. Về con chung: giao con chung là Phan Khánh L, sinh ngày 15/11/2016 cho chị Lê Thị Thùy V có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Phan Tấn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: chị Lê Thị Thùy V phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005214 ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị V đã nộp đủ án phí.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Chị V có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/5/2025), riêng anh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Lâm Đồng (02);

- VKSND huyện Lâm Hà;

- Chi cục THADS huyện Lâm Hà;

- Các đương sự;

- Nơi ĐKKH.

- Lưu AV – HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Phạm Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Lê Thị Thùy V với bị đơn anh Phan Tấn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger