Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Hằng

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-6-2025

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Công Chi
  2. Ông Nguyễn Văn Cơ

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 551/2024/TLST-HNGĐ ngày 30/12/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 551/2025/QĐXX-ST ngày 29/4/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 551/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A đường H, thôn Đ, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H – Luật sư của Công ty L – Chi nhánh Đ thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Địa chỉ: A D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Tấn Q, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số A đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Q xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Năm 2022 bà và các con chuyển đến sinh sống tại huyện K, tỉnh Đắk Nông, vợ chồng ly thân từ đó tới nay không còn quan tâm gì tới nhau. Hiện ông Q đang bị tạm giam về tội Tổ chức đánh bạc. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.

Về quan hệ con chung: Bà xác định giữa bà và ông Q có 03 con chung tên là Lê Thị Ngọc A, sinh ngày 12/5/2013, Lê Tấn T1, sinh ngày 18/11/2014 và Lê Tấn Gia B, sinh ngày 30/11/2019. Ly hôn, bà Nguyễn Thị T có nguyện vọng nuôi 03 con và không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai Bị đơn ông Lê Tấn Q trình bày:

Ông và bà T kết hôn vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp. Nay bà T ly hôn thì ông đồng ý.

Về con chung: Ông và bà T có 03 con chung là Lê Thị Ngọc A, sinh ngày 12/5/2013, Lê Tấn T1, sinh ngày 18/11/2014 và Lê Tấn Gia B, sinh ngày 30/11/2019. Ly hôn, ông đồng ý giao cả 03 con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

Ông Q trình bày hiện đang phải chấp hành án nên không thể tham gia theo yêu cầu của Tòa án nên ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông trong toàn bộ quá trình tố tụng.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao khai sinh của con chung; CCCD của nguyên đơn, biên bản xác minh tại địa phương của Tòa án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà T được ly hôn ông Q. Về con chung: đề nghị giao 03 con chung cho bà T nuôi dưỡng; ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận L. Do vậy, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn có đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

[3] Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Tấn Q có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 231/2012 năm 2012), hôn nhân tự nguyện. Đây là hôn nhân có đủ các điều kiện do Luật Hôn nhân và Gia đình quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Quá trình tố tụng, nguyên đơn bà T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ lâu nên tha thiết xin ly hôn; ông Q cũng có ý kiến quá trình chung sống giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp và đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Xét thấy, hôn nhân giữa bà T và ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; việc thuận tình ly hôn của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của bà T và ông Q.

[5] Về con chung: Bà T và ông Q đều xác định giữa ông bà có 03 con chung là Lê Thị Ngọc A, sinh ngày 12/5/2013, Lê Tấn T1, sinh ngày 18/11/2014 và Lê Tấn Gia B, sinh ngày 30/11/2019. Ly hôn, bà T và ông Q thống nhất giao cả 03 con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Q không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện ông Q đang phải chấp hành án phạt tù, từ trước đến nay các con chung đều do bà T nuôi dưỡng nên thỏa thuận về việc nuôi con của các đương sự là có cơ sở cần chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử giao 03 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu. Sau khi ly hôn, các đương sự vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T bà ông Q xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn: 150.000 đồng, bà T tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của bà Nguyễn Thị T đối với ông Lê Tấn Q.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Nguyễn Thị T và ông Lê Tấn Q.

  2. Về con chung: Giao 03 con chung tên là Lê Thị Ngọc A, sinh ngày 12/5/2013, Lê Tấn T1, sinh ngày 18/11/2014 và Lê Tấn Gia B, sinh ngày 30/11/2019 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng; ông Lê Tấn Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Khi vì lợi ích con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

  2. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) bà Nguyễn Thị T tự nguyện chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0009232 ngày 27/12/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm về việc ly hôn và được hoàn trả số tiền chênh lệch là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).

  3. Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - Chi cục THADS quận L;
  • - UBND p. H, q. L
  • (Số ĐKKH: 231 ngày 16/10/2012);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Anh T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Th ly hôn ông Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger