Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 6 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Khắc Thái.

- Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 105/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Bị đơn: Anh Quách Văn H, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

(Tại phiên tòa chị P, anh H vắng mặt đều đã có đơn đề nghị xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/4/2025, Bản tự khai ngày 24/4/2025 nguyên đơn chị Hoàng Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Quách Văn H có đăng ký kết hôn ngày 10/12/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống cùng bố mẹ anh H tại thôn Đ, xã T, huyện N. Từ khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn dẫn tới vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, đánh chửi lẫn nhau. Nguyên nhân chính dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng chị là do vợ chồng không còn tin tưởng nhau về mặt tình cảm, anh H nghi ngờ chị có quan hệ tình cảm với người khác. Đến năm 2024, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị P đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ cũng ở thôn Đ, xã T, huyện N sinh sống. Từ đó anh chị sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị P nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự sâu sắc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quách Văn H.

Về con chung: Chị Hoàng Thị P xác định chị và anh Quách Văn H có 02 con chung là các cháu Quách Long H1, sinh ngày 02/3/2012 và cháu Quách Thị Thanh V, sinh ngày 14/6/2016. Hiện cháu Long H1 đang ở với anh H, còn cháu Thanh V đang ở với chị P. Nếu ly hôn chị P có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 cháu Long H1, Thanh V cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, do cháu Long H1 có nguyện vọng được ở với bố. Do vậy, chị P cũng nhất trí để anh Quách Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Long H1 còn chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thanh V cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh Quách Văn H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị P.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Hoàng Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Đơn xin xử vắng mặt ngày 20/6/2025, chị Hoàng Thị P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Quách Văn H. Về con chung: chị P đề nghị được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Quách Thị Thanh V, sinh ngày 14/6/2016; anh Quách Văn H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Quách Long H1, sinh ngày 02/3/2012 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, công nợ chung: chị Hoàng Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 14/5/2025 anh Quách Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh H xác định anh chị có đăng ký kết hôn ngày 10/12/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc đến năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn do anh bắt được chị P có quan hệ bất chính với người đàn ông khác xong anh đã tha thứ và nhiều lần bảo chị P về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái khôn lớn, trưởng thành. Nay chị P xin ly hôn anh H không đồng ý vì anh muốn con cái có một gia đình trọn vẹn nhưng nếu chị P1 cương quyết ly hôn thì tùy chị P muốn giải quyết như nào thì kệ.

Về con chung: Anh Quách Văn H xác định anh và chị Hoàng Thị P có 02 con chung là các cháu Quách Long H1, sinh ngày 02/3/2012 và cháu Quách Thị Thanh V, sinh ngày 14/6/2016. Anh đồng ý với ý kiến của các cháu có nguyện vọng ở với ai thì người ấy nuôi. Anh H không có ý kiến gì về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Quách Văn H xác định anh chị tự thỏa thuận về tài sản chung, công nợ chung. Nếu không thỏa thuận được anh H sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết sau.

Anh Quách Văn H đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh. Mọi ý kiến anh H giữ nguyên như trong bản tự khai. Anh H không có yêu cầu phản tố hay đề nghị gì khác.

Ý kiến của cháu Quách Long H1: Cháu có nguyện vọng được ở với bố.

Ý kiến của cháu Quách Thị Thanh V: Cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã tiến hành giải quyết theo quy định. Do bị đơn không đến tham gia phiên hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, vì vậy vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

  • - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Toà án nhân dân huyện Nho Quan thụ lý giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Việc xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đảm bảo về hình thức, nội dung.
  • - Thời hạn gửi hồ sơ, văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát: Đảm bảo quy định của pháp luật, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Việc giao nộp tài liệu chứng cứ: Thực hiện đúng các quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các tài liệu là bản sao đều có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.
  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 5, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị P. Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị P và anh Quách Văn H.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Quách Long H1, sinh ngày 02/3/2012, hiện cháu đang ở với anh H cho anh Quách Văn H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; Giao cháu Quách Thị Thanh V, sinh ngày 14/6/2016, hiện đang ở với chị P cho chị Hoàng Thị P trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Quách Văn H, chị Hoàng Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
  3. Về án phí ly hôn: Chị Hoàng Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3]. Về sự vắng mặt của anh Quách Văn H: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Quách Văn H theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan là hợp lệ. Tại phiên tòa, chị P vắng mặt nhưng chị P đã có đơn đề nghị xử vắng mặt; anh H vắng mặt nhưng quá trình giải quyết vụ án anh H có yêu cầu xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hoàng Thị P và anh Quách Văn H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình ngày 10/12/2007. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh H là hợp pháp. Quá trình chung sống, cuộc sống vợ chồng chị P, anh H hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H cho rằng chị P có quan hệ tình cảm với người khác dẫn tới vợ chồng không còn tin tưởng nhau về mặt tình cảm. Từ năm 2024, chị P đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ cũng ở thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình sinh sống. Từ đó anh chị sống ly thân không ai quan tâm tới ai nữa. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không đồng ý ly hôn vì anh muốn con cái có một gia đình trọn vẹn nhưng nếu chị P cương quyết ly hôn thì tùy chị P muốn giải quyết như nào thì kệ. Mặt khác, Tòa án thông báo hòa giải anh H đã từ chối tham gia chứng tỏ anh H không có thiện trí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị P, anh H chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P với anh H là có căn cứ, phù hợp khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2]. Về con chung: Chị Hoàng Thị P và anh Quách Văn H xác định anh chị có 02 con chung là các cháu Quách Long H1, sinh ngày 02/3/2012 và cháu Quách Thị Thanh V, sinh ngày 14/6/2016. Hiện cháu Long H1 đang ở với anh H còn cháu Thanh V đang ở với chị P. Nếu ly hôn, chị P có nguyện vọng được nuôi cả 02 cháu Long H1, T. Tuy nhiên, do cháu Long H1 có nguyện vọng được ở với bố nên chị P cũng nhất trí. Anh H xác định nếu con có nguyện vọng ở với ai thì người ấy nuôi. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo xác minh tại địa phương chị P, anh H đều làm lao động tự do, quá trình sinh sống tại địa phương không ai vi phạm nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Mặt khác, cháu Long H1 có nguyện vọng được ở với bố còn cháu Thanh V có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định cho các cháu cần giao cháu Thanh V cho chị P và giao cháu Long H1 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị P, anh Quách Văn H không ai có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không buộc chị chị P, anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Hoàng Thị P, anh Quách Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[2.4]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Hoàng Thị P phải chịu theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; các Điều 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị P được ly hôn anh Quách Văn H. Quan hệ hôn nhân của chị Hoàng Thị P và anh Quách Văn H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

    Giao cho chị Hoàng Thị P tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Quách Thị Thanh V, sinh ngày 14/6/2016 cho đến khi cháu Thanh V đủ 18 tuổi.

    Giao cho anh Quách Văn H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Quách Long H1, sinh ngày 02/3/2012 cho đến khi cháu Long H1 đủ 18 tuổi.

    Chị Hoàng Thị P, anh Quách Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Hoàng Thị P phải chịu theo quy định của pháp luật là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001024 ngày 22/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan.
  4. Quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị P, anh Quách Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Nho Quan;
  • - Chi cục THADS huyện Nho Quan;
  • - UBND xã Thạch Bình, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN HNGĐ SỐ 43 GIỮA CHỊ HOÀNG THỊ P VÀ ANH QUÁCH VĂN H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger