TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST Ngày 23/6/2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài
Ông Lê Phi Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử số 4, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 46/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Phùng Thị T, sinh năm 1989; nơi đăng ký thường trú: tổ B, khu T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: số A, đường B, vùng K, thành phố M, tiểu bang V, Australia (Úc). Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: anh Lê Văn K, sinh năm 1986; nơi đăng ký thường trú: tổ B, khu T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: số H, O, vùng S, thành phố M, tiểu bang V, Australia (Úc). Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Phùng Văn T1, sinh năm 1960 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1963; cùng địa chỉ: tổ B, khu B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Đều vắng mặt (đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 10/4/2025, đều được Đ tại Australia (Úc) chứng thực ngày 10/4/2025, nguyên đơn chị Phùng Thị T trình bày:
Chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 06/8/2007 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, chị T và anh K chung sống thời gian đầu khá hạnh phúc. Để phát triển kinh tế gia đình, chị T và anh K đã cùng nhau xuất cảnh sang Australia (Úc) vào từ tháng 6/2024, để làm kinh tế. Từ khi sang Australia (Úc) đến tháng 10/2024, chị T và anh K vẫn chung sống hạnh phúc với nhau, sau đó chị T và anh K thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với nhau, nguyên nhân chủ yếu là do tính cách của hai vợ chồng không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không ở chung với nhau nữa. Sau khi ly thân được một thời gian, tình trạng mâu thuẫn xảy ra thường xuyên hơn, ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc của hai người. Nhiều lần chị T và anh K chủ động trao đổi để tìm cách giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả nên chị T yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị T được ly hôn với anh K.
- Về con chung: chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K có hai con chung là Lê Lan N, sinh ngày 01/9/2007 và Lê Duy P, sinh ngày 25/3/2010. Hiện nay các con đều khỏe mạnh, đang sinh sống tại Việt Nam cùng với bố mẹ đẻ của chị T là ông Phùng Văn T1 và bà Vũ Thị L; địa chỉ: tổ B, khu B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.
Khi ly hôn, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết giao hai cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay chị T vẫn đang ở nước ngoài nên ủy quyền bố mẹ đẻ của chị T nuôi dưỡng các con trong thời gian chị T làm việc ở nước ngoài.
- Về cấp dưỡng cho con: chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: không có, chị Phùng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị T đang ở nước ngoài nên chị T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, chị T xin vắng mặt tại các phiên họp, phiên tòa. Chị T xin tự nguyện chịu toàn bộ án phí, lệ phí ly hôn và các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Chị T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H; địa chỉ liên hệ: số I, T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội, được thay mặt và nhân danh chị T nộp và rút đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ khác, nhận các văn bản do Tòa án tống đạt cho chị T; nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, tiền án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng khác. Ngày mà bà Nguyễn Thị H nhận được văn bản do Tòa án tống đạt, cũng là ngày chị T nhận được văn bản.
* Tại Bản tự khai đề ngày 10/4/2025 được Đ tại Australia (Úc) chứng thực ngày 10/4/2025, bị đơn anh Lê Văn K trình bày:
Anh Lê Văn K và chị Phùng Thị T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh ngày 06/8/2007. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến tháng 10/2024, từ tháng 11/2024, anh K và chị T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với nhau, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng về quan điểm trong quá trình sinh sống, làm ăn tại Australia (Úc). Vì mâu thuẫn trầm trọng nên anh K và chị T đã không ở cùng với nhau nữa, đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh K đồng ý ly hôn với chị T, đề nghị Tòa án giải quyết để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: anh Lê Văn K và chị Phùng Thị T có hai con chung là Lê Lan N, sinh ngày 01/9/2007 và Lê Duy P, sinh ngày 25/3/2010. Từ khi anh K và chị T đi làm ăn tại Australia (Úc), các con chung ở nhà với bố mẹ đẻ của chị T. Khi ly hôn, để đảm bảo cuộc sống cho các con, anh K đề nghị Tòa án giao các con cho chị T nuôi dưỡng, anh K đồng ý việc chị T ủy quyền cho bố mẹ đẻ chị T là người nuôi dưỡng các con trong thời gian anh K và chị T đều đang làm việc ở nước ngoài.
- Về cấp dưỡng nuôi con: anh Lê Văn K và chị Phùng Thị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: không có, anh Lê Văn K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: anh Lê Văn K và chị Phùng Thị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh K đang ở nước ngoài nên anh K đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, anh K xin vắng mặt tại các phiên họp, phiên tòa. Anh K ủy quyền cho ông Hoàng Trường G; địa chỉ: tổ dân phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, được thay mặt và nhân danh anh K nộp và rút bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác, nhận các văn bản do Tòa án tống đạt cho anh K trong quá trình Tòa án giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh K. Ngày mà ông Hoàng Trường G nhận được văn bản do Tòa án tống đạt, cũng là ngày anh K nhận được văn bản.
* Tại Bản tự khai đề ngày 30/6/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phùng Văn T1 và bà Vũ Thị L, trình bày: ông T1 - bà Là L bố mẹ đẻ của chị Phùng Thị T, chị T và anh K có hai con chung là Lê Lan N, sinh ngày 01/9/2007 và Lê Duy P, sinh ngày 25/3/2010, hiện nay cả hai cháu đều khỏe mạnh, đang do ông T1 - bà L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông T1 - bà L, đồng ý nhận sự ủy quyền của chị T về việc: trong thời gian chị T chưa về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con thì ông T1 - bà L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Lan N và Lê Duy P và không yêu cầu chị T và anh K phải cấp dưỡng để ông T1 - bà L nuôi các cháu.
* Tại Đơn trình bày nguyện vọng đề ngày 28/5/2025, của các cháu Lê Lan N và Lê Duy P, thể hiện nội dung: các cháu đều là con chung của chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K. Khi bố mẹ ly hôn, các cháu đều có nguyện vọng được ở cùng với mẹ T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phùng Thị T, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; nguyên đơn chị Phùng Thị T và bị đơn anh Lê Văn K, hiện đang sinh sống tại Australia (Úc), căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Nguyên đơn chị Phùng Thị T, bị đơn anh Lê Văn K và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phùng Văn T1 và bà Vũ Thị L, đều vắng tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 06/8/ 2007 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, chị T và anh K chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2024. Từ tháng 11/2024, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng về quan điểm trong quá trình sinh sống, làm ăn tại Australia (Úc). Vì mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân, vợ chồng đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh K, anh K đồng ý. Căn cứ quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: chị T và anh K không còn tồn tại đời sống chung; vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần; không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T đối với anh K.
[2.2] Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân, chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K có hai con chung là Lê Lan N, sinh ngày 01/9/2007 và Lê Duy P, sinh ngày 25/3/2010.
Đối với yêu cầu, quan điểm của nguyên đơn chị Phùng Thị T; quan điểm của bị đơn anh Lê Văn K và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phùng Văn T1 – bà Vũ Thị L về phần nuôi con, cùng nguyện vọng của các con chung của chị T và anh K như nêu trên. Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh K nên căn cứ quy định tại các Điều 58; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: giao cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung Lê Lan N, sinh ngày 01/9/2007 và Lê Duy P, sinh ngày 25/3/2010 cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi). Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Do chị T đang làm việc tại Australia (Úc), nên tạm giao các cháu Lê Lan N và Lê Duy P cho ông Phùng Văn T1 và bà Vũ Thị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chị T về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con.
[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Phùng Văn T1 và bà Vũ Thị L, không yêu cầu chị T và anh K cấp dưỡng để ông T1 và bà L nuôi dưỡng các cháu Lê Lan N và Lê Duy P, nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung: không có, chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.5] Về nợ chung: chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phùng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị T.
[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Phùng Thị T được ly hôn với anh Lê Văn K.
[2] Về con chung:
Giao cho chị Phùng Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung Lê Lan N, sinh ngày 01/9/2007 và Lê Duy P, sinh ngày 25/3/2010 cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi).
Tạm giao các cháu Lê Lan N, sinh ngày 01/9/2007 và Lê Duy P, sinh ngày 25/3/2010 cho ông Phùng Văn T1 và bà Vũ Thị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chị Phùng Thị T về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Lê Văn K đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Lê Văn K lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Phùng Thị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Phùng Thị T không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Lê Văn K có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Phùng Văn T1 và bà Vũ Thị L, không yêu cầu, nên không đề cập giải quyết.
[4] Về tài sản chung: không có, chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về nợ chung: chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về án phí: chị Phùng Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006029 ngày 14/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Phùng Thị T và anh Lê Văn K biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; ông Phùng Văn T1 và bà Vũ Thị L biết, đều có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Hằng |
Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
