|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23-6-2025 “ V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thị Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh;
Bà Dương Thị Quyên.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hồng Yến Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Trong các ngày 13 và ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Hồng, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55a/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Hồng T, sinh năm 1997
Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Anh Võ Văn V, sinh năm 1992
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn vắng mặt có đơn, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Trương Thị Hồng T thể hiện ý kiến như sau: Chị và anh Võ Văn V chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 23/03/2022. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, vợ chồng bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung, sống không hạnh phúc nên chị và anh V đã không còn sống chung từ năm 2022, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm. Nay chị cương quyết yêu cầu được ly hôn với chồng là anh Võ Văn V. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 31/3/2022 (đang sống với anh V), chị T thống nhất để anh V tiếp tục nuôi, chị không cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Võ Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có đơn, anh V có ý kiến như sau: Vợ anh cương quyết ly hôn thì Tòa án cứ xem xét theo quy định. Về con chung thì vợ chồng chung sống có 01 (một) con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 31/3/2022 (đang sống với anh), anh thống nhất tiếp tục nuôi con, không yêu cầu vợ anh cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt có đơn, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị Trương Thị Hồng T và anh Võ Văn V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 23/03/2022 theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản cho anh Võ Văn V nhưng anh V vắng mặt và yêu cầu Tòa án xem xét theo quy định. Từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án ngày 06/01/2025 đến ngày mở phiên tòa xét xử vụ án lần thứ hai ngày 23/6/2025 thì đã hơn 05 tháng nhưng chị T và anh V vẫn không thể đoàn tụ.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trương Thị Hồng T và anh Võ Văn V đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về con chung: Chị T cho rằng vợ chồng chung sống có 01 (một) con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 31/3/2022 (đang sống với anh V), chị T tự nguyện thống nhất giao con chung cho anh Võ Văn V tiếp tục nuôi, anh V cũng thống nhất nuôi con. Vì thế, giao con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 31/3/2022 cho anh Võ Văn V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp và có cơ sở. Chị Trương Thị Hồng T được thăm con theo quy định. Về cấp dưỡng: Nguyên đơn không tự nguyện cấp dưỡng, bị đơn cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trương Thị Hồng T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
- Chị Trương Thị Hồng T được ly hôn với anh Võ Văn V.
- - Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của đương sự về việc thống nhất giao con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 31/3/2022 cho anh Võ Văn V được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị Trương Thị Hồng T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh Võ Văn V cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp chị Trương Thị Hồng T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì anh Võ Văn V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị T.
- + Về cấp dưỡng: Nguyên đơn không tự nguyện cấp dưỡng, bị đơn cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Trường hợp vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi có yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng cho con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Trương Thị Hồng T chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004915 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, chị T không phải nộp thêm. Anh Võ Văn V không phải chịu tiền án phí.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyền |
5
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Dương Thị Q – Bùi Nguyễn Tuyết Minh Nguyễn Thị T2
6
Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU
