Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

---------------------------------

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày : 19 - 8 - 2025

“Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Hoà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Cao Trí

Bà Lương Thảo Vy

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - An Giang tham gia phiên toà: Không.

Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 287/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 150/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 2001, căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 13/8/2021. Nơi cư trú: Số H, ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang nay là Số H, ấp H, xã T, tỉnh An Giang. (Có mặt)
  2. Bị đơn: Ông Phan Chí B, sinh năm 1997, căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 13/8/2021. Nơi cư trú: Số C, ấp C, xã T, huyện C, tỉnh An Giang nay là số C, ấp C, xã T, tỉnh An Giang. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng bà Trần Thị H trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Phan Chí B tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, tuy nhiên về sau cuộc sống không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm, phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông Phan Chí B.

Về con chung: Ông bà có 01 (Một) con chung tên Phan Trần Mai A, sinh ngày 10/02/2022. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Phan Chí B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Phan Chí B vắng mặt các lần Tòa án triệu tập nhưng có văn bản trình bày ý kiến như sau: Ông xác định vợ chồng ông có xảy ra cự cải và mâu thuẫn nhưng ông nghỉ những mâu thuẫn đó không dẫn đến đỗ vỡ hạnh phúc của vợ chồng. Hiện ông còn thương vợ, con nên ông không đồng ý ly hôn. Trường hợp sự việc không như ông mong muốn thì ông yêu cầu được nuôi con chung.

Tại phiên tòa:

Bà Trần Thị H trình bày: Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông Phan Chí B. Do giữa bà với ông Phan Chí B cũng như gia đình của ông Phan Chí B mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn được. Bên cạnh đó, bà với ông Phan Chí B đã ly thân từ tháng 01/2025 âm lịch đến nay đã hơn 07 tháng nhưng hai bên gia đình không thể hàn gắn được. Về con chung bà với ông Phan Chí B có 01 (Một) con chung tên Phan Trần Mai A, sinh ngày 10/02/2022, con sống chung với bà từ lúc sinh ra đến nay nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con, không yêu cầu ông Phan Chí B cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Phan Chí B trình bày: Ông với bà Trần Thị H là vợ chồng, quá trình tiến đến hôn nhân cũng như mâu thuẫn như trình bày của bà Trần Thị H nhưng ông nghĩ đây là những mâu thuẫn bình thường giữa vợ chồng. Tuy nhiên, ông đã nhiều lần hàn gắn với bà Trần Thị H nhưng giữa ông với bà Trần Thị H cũng như gia đình hai bên không thể hàn gắn được. Mặc dù vậy nhưng ông vẫn còn tình cảm rất nhiều với vợ, cũng như vì con chung nên ông không đồng ý ly hôn; Trường hợp Tòa án giải quyết buộc ly hôn thì ông đồng ý giao con chung Phan Trần Mai A, sinh ngày 10/02/2022 cho bà Trần Thị H tiếp tục, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ông không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Trần Thị H yêu cầu được ly hôn và nuôi con đối với ông Phan Chí B. Do đó, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Ông Phan Chí B có địa chỉ cư trú tại xã T, tỉnh An Giang thuộc khu vực thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân Khu vực 13 – An Giang nên Tòa án nhân dân Khu vực 13 – An Giang thụ lý, giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự:

Bà Trần Thị H và ông Phan Chí B có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn:

Thấy rằng, bà Trần Thị H và ông Phan Chí B đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân giữa bà Trần Thị H và ông Phan Chí B là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà Trần Thị H cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên đã sống ly thân hơn 07 tháng nay. Ông Phan Chí B xác định có mâu thuẫn như trình bày của bà Trần Thị H nhưng ông không đông ý ly hôn do còn thương vợ và con.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, ông bà đã sống ly thân hơn 07 tháng nay, ông bà cũng như hai bên gia đình của ông bà không thể hàn gắn được tình cảm của ông bà. Điều này thể hiện ông bà đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không thể cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Do đó, ông bà đã không thực hiện được tình nghĩa của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy, ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Huỳnh đối V ông Phan Chí B là phù hợp các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Thấy rằng, trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Trần Thị H và ông Phan Chí B có 01 (Một) con chung tên Phan Trần Mai A, sinh ngày 10/02/2022. Hiện tại cháu đang được bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi vợ chồng ly thân đến nay vẫn đảm bảo ổn định cuộc sống của cháu. Bên cạnh đó, ông Phan Chí B đồng ý giao con chung cho bà Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong trường hợp Tòa án giải quyết buộc ông bà ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu cho bà Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp

Về cấp dưỡng nuôi con, thấy rằng bà Trần Thị H không yêu cầu ông Phan Chí B cấp dưỡng nuôi con, ông Phan Chí B không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:

Thấy rằng, bà Trần Thị H, ông Phan Chí B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí:

Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà Trần Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Phan Chí B không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 56, Điều 58, Điều 80, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Huỳnh đối V ông Phan Chí B. Bà Trần Thị H và ông Phan Chí B ly hôn.
  2. Về quan hệ con chung:

    Giao Phan Trần Mai A, sinh ngày 10/02/2022 cho bà Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Phan Chí B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nôm con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

    Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

    Bà Trần Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0009690 ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 13 – An Giang.

  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND KV13-An Giang;
  • - Phòng THADS KV13-An Giang;
  • - UBND xã Thạnh Mỹ Tây, tỉnh An Giang;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 19/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger