TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2025/HNGĐ - ST Ngày: 19-6-2025 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Hạnh; bà Trịnh Thị Yến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 19/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 54/2025/TLST - HNGĐ ngày 14/4/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 15/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04/6/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Trọng H - Sinh năm 1947 - Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa – Có mặt.
- Bị đơn: Bà Lưu Thị C - Sinh năm 1954 - Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/4/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Trọng H trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Lưu Thị C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 12/7/2004. Sau ngày kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, bà C về nhà tại thôn G, xã N ở, ông có nói bà C về sống cùng ông nhưng bà C nói già cả rồi không sống cùng cũng không sao. Vợ chồng ông sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay ông thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên ông yêu cầu được ly hôn bà C theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng ông không có con chung, ông không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, bà Lưu Thị C đã biết được ông H khởi kiện xin ly hôn bà ra Tòa án nhưng bà vẫn cố tình vắng mặt, không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ông Phạm Trọng H có đơn đề nghị giải quyết việc ly hôn giữa ông và bà Lưu Thị C có địa chỉ ở xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Nga Sơn.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bà Lưu Thị C biết việc ông Phạm Trọng H xin ly hôn bà. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bà C vắng mặt nên không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Ngày 04/6/2025, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, bà C vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, bà C vắng mặt lần thứ 02 không có lý do. Như vậy, việc bà C không đến Tòa án để giải quyết vụ án là trường hợp cố tình trốn tránh, nên theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt bà C.
[2] Về hôn nhân:
Ông Phạm Trọng H và bà Lưu Thị C kết hôn vào 12/7/2004, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Ông, bà chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo ông H do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, bà C về nhà tại thôn G, xã N ở, ông có nói bà C về sống cùng ông nhưng bà C không nghe. Ông H và bà C đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay ông H thấy mâu thuẫn đã trầm trọng nên yêu cầu ly hôn bà C.
HĐXX thấy, ông H và bà C có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, bà C không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gì, chứng tỏ bà C không mong muốn đoàn tụ. Như vậy, có thể khẳng định cuộc hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho ông H được ly hôn bà C là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Ông H và bà C không có con chung, nên miễn xét.
[4] Về tài sản và nợ chung: Ông H không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
[5] Về án phí: Ông Phạm Trọng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật nhưng là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn tiền án phí DSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Phạm Trọng H, cho ông H được ly hôn bà Lưu Thị Chức .
- Về án phí: Ông Phạm Trọng H được miễn tiền án phí DSST.
- Về quyền kháng cáo: Ông H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà C có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 43/2025/HNGĐ - ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 43/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Phạm Trọng H yêu cầu ly hôn bà Lưu Thị C
