TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 3 - 2025 “V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Trần Trung Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Khánh Chi - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 214/2024/TB-TLVA ngày 14 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXX-ST ngày 04/3/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm 1993. Luật sư công ty L2 và cộng sự - Chi nhánh N2. Địa chỉ: Số D, đường Đ, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình Í, sinh năm 1987. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại A B, Hungary. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đình Í đăng ký kết hôn vào ngày 18/4/2011 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt và sống ly thân từ đó đến nay. Năm 2020, anh Í đi lao động tại H, còn mẹ con chị T về sinh sống tại huyện A, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng sống xa cách nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hòa giải được. Đến nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị T làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đình Ích .
Về quan hệ con chung: Quá trình sống chung vợ chồng chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đình Í có 04 con chung là cháu Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 22/02/2011; Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 11/12/2012, Nguyễn Tuệ N1 sinh ngày 11/9/2017 và Nguyễn Tú L sinh ngày 01/2/2020, chị T có nguyện vọng được nuôi các con chung, không yêu cầu anh Í cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Đình Í: Quá trình giải quyết vụ án, anh Í đã gửi bản tự khai và các tài liệu chứng cứ có chứng nhận của Đ1 tại H cho Tòa án với nội dung anh nhất trí với yêu cầu ly hôn của chị T; về con chung anh Í đồng ý để chị T trực tiếp nuôi 04 con chung là cháu Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 22/02/2011; Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 11/12/2012, Nguyễn Tuệ N1 sinh ngày 11/9/2017 và Nguyễn Tú L sinh ngày 01/2/2020 và anh Í sẽ cấp dưỡng nuôi 04 con mỗi tháng 6.000.000đ (mỗi con 1.500.000đ/ tháng); về tài sản chung và nợ chung anh Í không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do điều kiện không thể về Việt Nam làm việc theo giấy thông báo của Tòa án nên anh Í làm đơn xin được giải quyết vắng mặt trong vụ án ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Đồng thời, anh Í ủy quyền giao nhận các tài liệu chứng cứ của Tòa án cho mẹ ruột là bà Phan Thị L1, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Bà Phan Thị L1 nhất trí nhận ủy quyền giao nhận các tài liệu chứng cứ của Tòa án cho anh Nguyễn Đình Ích .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 39 BLTTDS, khoản 1 Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/ HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TANDTC cụ thể:
- - Về tình cảm: Ghi nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đình Ích .
- - Về con chung: Ghi nhận việc thỏa thuận giao các con chung Nguyễn Linh Đ; Nguyễn Thị Lan A, Nguyễn Tuệ N1 và Nguyễn Tú L cho chị Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận việc anh Nguyễn Đình Í đóng tiền nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ cho mỗi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét.
- - Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV chị Nguyễn Thị T tự nguyện chịu 150.000đồng án phí ly hôn và 150.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại thời điểm thụ lý vụ án anh Nguyễn Đình Í đang lao động tại A B, Hungary. Tại Công văn số 1171/QLXNC-Đ1, ngày 19/11/2024 của Phòng Q Công an tỉnh H, xác nhận thông tin: Anh Nguyễn Đình Í, sinh năm 1987, địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh gần nhất vào ngày 08/6/2023 qua sân bat quốc tế N3, không thấy thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Đây là vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài do có bị đơn đang lao động tại nước ngoài. Căn cứ Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5, Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2] Ngoài ra, anh Nguyễn Đình Í đã ủy quyền giao nhận các tài liệu chứng cứ của Tòa án cho mẹ ruột là bà Phan Thị L1, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Để giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật, Tòa án đã tiến hành tống đạt các tài liệu của tòa án cho bị đơn là anh Nguyễn Đình Í thông qua bà Phan Thị L1.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đình Í đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn ngày 18/4/2011 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình xác định hôn nhân giữa anh Í và chị T là hợp pháp. Sau khi kết hôn, năm 2020 anh Í đi lao động tại Hungary, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, đến nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn xin được ly hôn với anh Í. Thông qua biên bản làm việc tại gia đình và bản tự khai anh I gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, anh Í đồng ý với việc chị T xin được ly hôn.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng hôn nhân giữa anh Í và chị T không đạt được mục đích đó, vợ chồng không thương yêu, quan tâm, giúp đỡ nhau. Căn cứ quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, cần ghi nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đình Í để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị T và anh Í có 04 con chung: Nguyễn Linh Đ; Nguyễn Thị Lan A, Nguyễn Tuệ N1 và Nguyễn Tú L, chị T có nguyện vong nuôi 04 con và không yêu cầu anh Í đóng tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh Í đồng ý yêu cầu của chị T về việc nuôi con và tự nguyện đóng tiền nuôi con mỗi tháng 1.500.000đồng/cháu.
Xét thấy, hiện tại các cháu Nguyễn Linh Đ; Nguyễn Thị Lan A, Nguyễn Tuệ N1 và Nguyễn Tú L đang ở với mẹ và được chăm sóc, phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án các con chung là cháu Nguyễn Linh Đ, Nguyễn Thị Lan A và Nguyễn Tuệ N1 có đơn trình bày nguyện vọng về việc nếu bố mẹ ly hôn thì các con có nguyện vọng được ở với mẹ là Nguyễn Thị T. Còn anh Í hiện tại đang ở nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và cũng nhất trí giao các con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nên để đảm bảo sự phát triển bình thường và ổn định cuộc sống cho các con chung cần ghi nhận qua điểm của anh Í và chị T, giao các con chung là cháu Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 22/02/2011; Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 11/12/2012, Nguyễn Tuệ N1 sinh ngày 11/9/2017 và Nguyễn Tú L sinh ngày 01/2/2020 cho chị Nguyễn Thị T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận việc anh Í tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 1.500.000đồng/cháu.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T tự nguyện chịu 150.000đồng án phí ly hôn và 150.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 39 BLTTDS, khoản 1 Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/ HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đình Ích .
- Về con chung: Ghi nhận việc thỏa thuận giao các con chung là cháu Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 22/02/2011; Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 11/12/2012, Nguyễn Tuệ N1 sinh ngày 11/9/2017; Nguyễn Tú L sinh ngày 01/2/2020 cho chị Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận việc anh Nguyễn Đình Í cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 1.500.000đồng cho mỗi con cho đến khi các con chung tròn 18 tuổi và được quyền đi lại thăm nom con chung mà không bị ai ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án miễn xét.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu 150.000đồng án phí ly hôn và 150.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000168 ngày 11/11/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo:
- - Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- - Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Đức Quang |
Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án HNGĐST Nguyễn Thị T - Nguyễn Đình I
