|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST Ngày 11-02-2025 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quốc Tuấn.
Bà Lưu Xông Pha.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 tháng 01 và ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2024/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 486/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Mỹ T, sinh năm 1991 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1987 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phước Văn Đ (có yêu cầu vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Mỹ L1 (có yêu cầu vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Nguyễn Hoàng G (có yêu cầu vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Nguyễn Văn L2 (có yêu cầu vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Số B Đô Đốc T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trần Văn M (có yêu cầu vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Thị L3 (vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Lê Hương T1, sinh năm 1993 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Tuyết L4 (vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Nguyễn Văn P (vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1977 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (có yêu cầu vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp R, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Cao Văn T2, sinh năm 1976 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thu T3, sinh năm 1976 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn N1 – Chi nhánh C.
- Địa chỉ: Số A, H, khóm A, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Mã Tam H – chủ doanh nghiệp tư nhân M2.
- Địa chỉ cư trú: Số G, L, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Ông Trần Việt E, sinh năm 1969 (có yêu cầu vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Mỹ T và quá trình tố tụng tại Tòa án chị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L tự nguyện kết hôn vào năm 2008, đến ngày 14/12/2020 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp chủ yếu là do áp lực từ phía gia đình nhưng không nhận được sự đồng cảm và chia sẽ của anh L, dẫn đến vợ chồng bất đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống từ đó không hạnh phúc và tự sống riêng từ tháng 01/2024 đến nay, do không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh L.
Về con chung của chị và anh L gồm có 03 người:
- Nguyễn Thanh Đ1, sinh ngày 30/6/2009 đang ở với anh L.
- Nguyễn Hoàng Nhật D, sinh ngày 18/10/2015 đang ở với chị.
- Nguyễn Hoàng Nhã H1, sinh ngày 28/10/2020 đang ở với chị.
Sau khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi hai người con đang ở với chị gồm Nguyễn Hoàng Nhật D và Nguyễn Hoàng Nhã H1, chị thống nhất để con tên Nguyễn Thanh Đ1 cho anh L nuôi, yêu cầu anh L cấp dưỡng đối với người con nhỏ theo quy định của pháp luật kể từ tháng 01/2024 đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản gồm:
- Một ụ ghe tàu (xưởng sửa chữa tàu) tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau được xây dựng trên phần đất của ông Nguyễn Hoàng G và bà Nguyễn Mỹ L1 cho, đồng thời vợ chồng đã cất nhà ở trên đất này và làm ụ ghe tàu, chị không có giấy tờ hay bất cứ chứng cứ gì chứng minh việc tặng cho, đất này theo Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau xác định đất thuộc quyền quản lý của Nhà nước nên chị không yêu cầu chia đất. Chị yêu cầu chia hai giá trị nhà và giá trị đầu tư làm xưởng sửa chữa tàu theo định giá 121.073.000 đồng hiện anh L quản lý, sử dụng, chị chấp nhận để anh L nhận và anh L giao cho chị ½ giá trị = 60.536.500 đồng.
- Đất vuông tôm (nuôi trồng thủy sản) khoảng 13 công tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau là do cha mẹ chồng tên Nguyễn Hoàng G và bà Nguyễn Mỹ L1 cho, việc tặng cho không có giấy tờ gì chứng minh nhưng thực tế vợ chồng chị đã ở trên phần đất này từ khoảng năm 2011, vợ chồng chị có cho một số người thuê mướn đất sau đó đã trả lại và hiện tại cho ông Phước Văn Đ thuê toàn bộ diện tích đất để nuôi tôm công nghiệp, khi cho thuê chồng chị làm hợp đồng, giá trị đất khoảng 1.500.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị không yêu cầu chia đối với tài sản này.
- Chiếc xe Wave anh L quản lý, sử dụng, giá 3.000.000 đồng phần này chị chấp nhận để anh L nhận và chia lại cho chị ½ giá trị = 1.500.000 đồng.
- Chiếc xe hon đa AIR BLADE hiện chị đứng tên chứng nhận đăng ký xe và đang quản lý, sử dụng, giá hiện tại 25.000.000 đồng, chấp nhận chia hai, chị nhận tài sản và giao cho anh L ½ giá trị = 12.500.000 đồng.
- Một chiếc xe Exciter biển kiểm soát 69N1-672.79 hiện anh L đang quản lý, sử dụng giá 26.000.000 đồng, chị yêu cầu chia hai, chị chấp nhận để anh L nhận và anh L giao cho chị ½ giá trị = 13.000.000 đồng.
- Nền nhà hùn với ông Trần Văn M để chuyển nhượng đất của ông Trần Việt E – Trú tại ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau, đưa tiền mặt 100.000.000 đồng cho ông Trần Việt E, sau đó ông Trần Việt E có sửa chữa ghe với giá 60.000.000 đồng và ông Việt E có yêu cầu đưa thêm tiền đất nên hai bên thống nhất chuyển sang tiền để chuyển nhượng đất với ông Việt E, như vậy trước sau là 160.000.000 đồng. Hiện nay, phần đất này chị không yêu cầu giải quyết trong vụ án, chị yêu cầu tách ra để giải quyết thành vụ án khác.
- Một chiếc ghe vợ chồng mua 25.000.000 đồng, mua ghe củ nhưng không biết của ai vì anh L chủ động thực hiện, chị là người trả tiền, người bán ghe hiện nay chị không biết ở đâu. Khi mua ghe được hai ngày thì vợ chồng chị không còn ở chung với nhau và hiện nay anh L đã tháo ghe để lấy đồ sửa chữa cho các ghe tàu khác, chị yêu cầu chia hai giá trị, anh L phải giao cho chị 12.500.000 đồng.
- Một tủ lạnh giá 12.110.000 đồng, một bình nước lọc giá 2.887.500 đồng, một bồn nước giá 910.000 đồng, một thùng loa kéo giá 5.225.000 đồng, một bàn trang điểm giá 3.375.000 đồng. Tổng cộng 24.507.500 đồng chị yêu cầu chia hai, chị chấp nhận để anh L nhận và anh L phải giao cho chị ½ giá trị theo định giá.
Ngoài ra, còn có một số quần áo may sẵn dùng để bán chị và anh L đã phân chia xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ phải trả:
- Nợ Cao Văn T2 và Nguyễn Thu T3 84.000.000 đồng.
- Nợ của Nguyễn Thị P1 195.000.000 đồng.
- Nợ ông Nguyễn Văn P 50.000.000 đồng.
- Nợ bà Nguyễn Tuyết L4 30.000.000 đồng.
- Nợ bà Lê Hương T1 08 chỉ vàng 24k.
- Nợ bà Nguyễn Thị L3 20.000.000 đồng.
Nợ phải thu: Nguyễn Văn L2 nợ 400.000.000 đồng nhưng tại phiên tòa chị rút lại yêu cầu và không yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án.
Về các khoản nợ anh L trình bày chị T có ý kiến như sau:
- - Khoản nợ của Mã Tam H theo anh L khai là tiền vật tư, keo lắp ghe tàu do anh L mua để thực hiện sửa chữa, đóng tàu cho khách, khi vợ chồng không còn ở chung thì vật tư còn lại dùng để đóng ghe tàu, sửa chữa ước tính trên 40.000.000 đồng trong khi đó còn hai chiếc ghe anh L chuẩn bị giao cho khách, như vậy khoản thu nhập đủ để thanh toán khoản nợ cho Mà Tam Hiệp thậm chí còn dôi dư ra.
- - Khoản nợ Nha khoa tâm Đ2 thực tế là có nhưng được trả dần theo thời gian, tính đến ngày 05/3/2024 còn nợ 25.000.000 đồng.
- - Tiền chuyển khoản tên Nguyễn Đức P2 thực tế ông P2 có ghe tàu cần lắp keo nên chuyển tiền để vợ chồng mua keo lắp, chứ không phải nợ. Vì việc lắp keo chỉ nhận tiền gia công tùy thuộc vào số lượng keo lắp, chủ ghe tàu thực hiện việc mua keo hoặc nhờ vợ chồng chị mua. Trường hợp ông P2 là nhờ vợ chồng chị mua nên mới chuyển tiền qua tài khoản chứ vợ chồng chị không có nợ ông P2.
- - Số tiền ông Phước Văn Đ anh L trình bày thực tế vợ chồng chị không có nợ, vì trước đây vợ chồng chị có cho ông Phước Văn Đ3 thuê đất vuông như đã nêu trên để làm tôm công nghiệp, khi chị và anh L không còn ở chung và chị đi nơi khác làm ăn, anh L cho rằng thời hạn hợp đồng với ông L vẫn còn nên buộc chị phải trả lại số tiền theo anh L xác định nhưng thực tế ông Đ vẫn đang sử dụng đất, không có vi phạm gì về thời hạn cho thuê.
- - Khi ra đi chị có viết giấy gửi lại cho anh L trong đó có nhắc đến khoản nợ của bà P1, ông T2 và bà M1, trong nội dung chị có viết “ bên ngoài em kº thiếu ai đồng nào hết” mục đích là chị không muốn để anh L phải lo nhiều nhưng thực tế còn những khoản nợ khác như đã liệt kê trên.
- - Về khoản nợ của bà Nguyễn Thị M1 do trước đây chị không có yêu cầu, chị khởi kiện thành vụ án riêng và đề nghị Tòa án giải quyêt thành vụ án độc lập, không yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án này.
- Các khoản nợ trả chị yêu cầu xem xét trách nhiệm cùng với anh L.
Ý kiến anh L trình bày: Về phần hôn nhân anh thống nhất theo ý kiến chị T trình bày, việc kinh doanh mua bán, quản lý tiền bạc chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình đều do chị T thực hiện, thời gian chung sống anh chỉ thực hiện việc sửa chữa tàu cho khách khi có yêu cầu. Do có phát sinh tranh chấp nên anh yêu cầu ly hôn với chị T.
Về phần con chung có 03 người như chị T khai, anh nuôi người con tên Nguyễn Thanh Đ1 đang ở với anh, còn lại hai người con tên Nguyễn Hoàng Nhật D và Nguyễn Hoàng N Hân anh thống nhất để chị T nuôi, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi người con nhỏ tên Nguyễn Hoàng Nhã H1, sinh ngày 28/10/2020.
Về tài sản:
- Một ụ ghe tàu (xưởng sữa chữa tàu) tên Nhật D tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau, phần đất này trước đây của cha mẹ anh sử dụng, nhưng sau đó cha mẹ anh để lại vợ chồng mượn cất nhà ở, phần đất này thuộc quyền quản lý của Nhà nước, cụ thể là Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau, không phải là tài sản của vợ chồng nên không được chia. Trên đất có nhà và giá trị đầu tư làm xưởng sửa chữa tàu theo định giá 121.073.000 đồng, anh chấp nhận chia hai với chị T, anh nhận tài sản và giao chị T 1/2 giá trị.
- Đất vuông tôm (nuôi trồng thủy sản) khoảng 13 công tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau phía chị T yêu cầu chia thực tế không phải của vợ chồng mà là của cha mẹ anh tên Nguyễn Hoàng G và bà Nguyễn Mỹ L1 hiện do cha mẹ anh đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện cha mẹ anh đang giữ. Phần đất hiện đã cho ông Phước Văn Đ thuê để làm tôm công nghiệp, không phải của vợ chồng nên không được chia. Phần đất này trước đây cha mẹ anh cho vợ chồng anh mượn sử dụng để tạo cuộc sống gia đình. Vợ chồng anh chỉ sử dụng được một thời gian, vì điều kiện vợ chồng anh không trực tiếp làm nên cha mẹ anh có thống nhất để cho một số người thuê đất và cha mẹ anh đồng ý cho tiền thuê đất cho vợ chồng anh sử dụng để trang trải cuộc sống gia đình. Nay chị T rút lại yêu cầu chia đối với tài sản này nên anh không có ý kiến gì.
- Chiếc xe Wave giá 3.000.000 đồng phần này anh chấp nhận nhận xe và chia cho chị T 1/2 giá trị = 1.500.000 đồng.
- Chiếc xe hon đa AIR BLADE hiện chị T đứng tên, giá hiện tại 25.000.000 đồng, anh chấp nhận chia hai, chị T nhận xe và giao cho anh ½ giá trị = 12.500.000 đồng.
- Chiếc xe Exciter biển kiểm soát 69N1-672.79 hiện anh đang quản lý, sử dụng giá 26.000.000 đồng, anh chấp nhận nhận xe và chia cho chị T 1/2 giá trị = 13.000.000 đồng.
- Nền nhà chị T yêu cầu chia thực tế vợ chồng anh không có hùn với ông Trần Văn M, vợ chồng anh có thống nhất mua bán (chuyển nhượng) đất của ông Trần Việt E – Trú tại ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau và có đặt cọc cho ông Trần Việt E 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi đến thời hạn hai bên thống nhất chuyển nhượng thì gia đình anh không có khả năng nên ông Trần Việt E hủy và không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng nên tiền cọc vợ chồng anh đưa cho ông Trần Việt E xem như bị mất, không đòi lại được. Hiện nay, phần nền đất này chị T không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên anh cũng không đặt ra yêu cầu gì.
- Đối với chiếc ghe chị T trình bày mua giá 25.000.000 đồng là không có, vợ chồng anh không có chiếc ghe nào cả, vợ chồng anh cũng không có mua ghe về tháo ra để lấy đồ sửa chữa cho các ghe tàu khác theo như chị T trình bày nên không chấp nhận chia.
- Một tủ lạnh, một bình nước lọc, một bồn nước, một thùng loa kéo, một bàn trang điểm, anh chấp nhận nhận tài sản và chia cho chị T ½ giá trị theo định giá.
Ngoài ra, còn có số quần áo dùng để bán, anh và chị T đã phân chia xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ phải trả: Những khoản nợ chị T khai anh không biết và không chịu trách nhiệm.
- Khoản nợ của doanh nghiệp tư nhân M2 thực tế còn nợ mua keo để sửa chữa tàu. Từ khi chị T bỏ đi thì vợ chồng anh còn nợ số tiền 46.757.000 đồng theo giấy công nợ vợ chồng Nhật D anh đã gửi cho Tòa án, vì ụ ghe tàu (trại xuồng) để tên Nhật D.
- Khoản nợ của Công ty trách nhiệm hữu hạn N1 – Chi nhánh C, đây là khoản nợ làm răng cho con tên Nguyễn Thanh Đ1. Khi chị T bỏ đi thì khoản nợ là 26.000.000 đồng, anh trực tiếp trả được 10.000.000 đồng hiện còn nợ 16.000.000 đồng, giấy tờ anh cung cấp cho Tòa án bằng phiếu thu tiền ngày 15/11/2024.
- Khoản tiền của Nguyễn Đức P2, đây là khoản tiền ông P2 gửi để vợ chồng anh mua keo lắp ghe tàu cho ông P2 và được chuyển qua tài khoản của chị T số tiền mua keo là 38.000.000 đồng và ứng trước tiền công 10.000.000 đồng, tổng cộng là 48.000.000 đồng. Khi chị T bỏ đi thì anh thực hiện lắp keo cho ghe của ông P2, tiền chị T nhận nhưng lại không chuyển giao cho cơ sở mua keo nên anh phải xuất ra 38.000.000 đồng để trả. Hiện tại, giữa anh và ông P2 không còn nợ gì với nhau, giấy tờ chuyển tiền cho ông P2 anh đã cung cấp cho Tòa án chủ yếu là để chứng minh cho ý kiến của anh, chứ thật ra anh không có nợ ông P2.
- Số tiền của ông Phước Văn Đ thực tế trước đây cha mẹ anh thống nhất cho ông Đ thuê phần đất mà chị T trình bày với thời hạn 07 năm, mỗi năm 25.000.000 đồng, số tiền thuê đất cha mẹ cho vợ chồng anh nhận nhưng ông Đ chỉ sử dụng được 02 năm, còn lại 05 năm. Như vậy, thời hạn 05 năm được tính cho mỗi năm là 25.000.000 đồng, tổng là 125.000.000 đồng.
- Khoản nợ bà Nguyễn Thị M1 anh không rõ vì chị T trực tiếp tham gia, anh chỉ nghe bà M1 nói lại là không có nợ, trường hợp chị T có yêu cầu được với bà M1 thì chị T được sở hữu anh không có đặt ra yêu cầu khoản tiền này.
- Khoản tiền chị T khai có cho ông Nguyễn Văn L2 mượn 400.000.000 đồng thông qua việc đưa tiền cho cha anh gửi cho L2 là không có. Tại phiên tòa chị T rút lại yêu cầu này đối với L2 nên anh không có ý kiến gì.
Ý kiến ông Phước Văn Đ: Ông xác định ông thuê đất của ông Nguyễn Hoàng G và bà Nguyễn Mỹ L1 chứ không có thuê đất của vợ chồng chị T, ông không có liên quan đến vụ việc yêu cầu chia tài sản giữa chị T và anh L nên ông từ chối tham gia và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông.
Ý kiến bà Nguyễn Mỹ L1 và ông Nguyễn Hoàng G: Bà L1 và ông G đều xác định không có cho đất như lời chị T trình bày, phần đất hiện tại đã cho ông Phước Văn Đ thuê không phải là của chị T và anh L nên không được chia, do điều kiện lớn tuổi nên đề nghị vắng mặt.
Ý kiến ông Nguyễn Văn L2: Ông không có nợ chị T và anh L nên từ chối tham gia tố tụng.
Ý kiến ông Trần Văn M: Ông không có hùn tiền sang đất với anh L, giữa anh với anh L có gặp ông Trần Việt E để sang đất, mỗi người sang riêng, phần của anh đã thực hiện xong với ông Việt E, còn phía vợ chồng anh L thì anh không rõ và đề nghị vắng mặt vì không có liên quan.
Ý kiến bà Nguyễn Thị L3: Vào ngày 11/01/2004 âm lịch, chị T có mượn của chị 20.000.000 đồng, không làm biên nhận và nợ tiền tập hoá 5.700.000 đồng, nhưng chị không có làm đơn yêu cầu độc lập.
Ý kiến bà Lê Hương T1: Tháng 6/2023, chị T có mượn chị 08 chỉ vàng 24k nhưng chị không có làm đơn yêu cầu độc lập trong vụ án.
Bà Nguyễn Thị P1: Vào ngày 20/11/2022 chị T có tham gia 01 chân hụi 5.000.000 đồng gồm 30 chân, mỗi tháng mở một lần, đã hốt còn nợ 70 triệu trong đó 60 triệu đến hạn và 10 triệu chưa đến hạn (hụi còn hai kỳ nữa là mãn), đến ngày 15/9/2023 tiếp tục tham gia 01 chân hụi 5.000.000 đồng gồm 30 chân, mỗi tháng mở một lần, hụi năm 2023 khi mãn là nợ 125 triệu, chưa đóng 60 triệu, còn lại 65 triệu chưa đến hạn. Bà yêu cầu trả chân hụi 2022 là 60 triệu và chân hụi 2023 là 60 triệu, tổng là 120 triệu, yêu cầu chị T và anh L cùng có trách nhiệm trả. Số nợ hụi chưa đến hạn 75 triệu bà sẽ yêu cầu sau nếu không thực hiện.
Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau: Phần đất hiện nay anh L và chị T làm ụ ghe tàu (xưởng sửa chữa tàu) thuộc quyền quản lý của Nhà nước nên đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo luật định và đề nghị vắng mặt.
Ông Cao Văn T2 và bà Nguyễn Thu T3: Chị thuận có tham gia chơi hụi do ông T2 và bà T3 làm chủ, đã hốt hết nhưng hiện tại hụi chưa mãn, phía ông T2 và bà T3 không có làm đơn yêu cầu độc lập trong vụ án.
Bà Nguyễn Tuyết L4, ông Nguyễn Văn P, Công ty trách nhiệm hữu hạn N1 – Chi nhánh C, Mã Tam H – chủ doanh nghiệp tư nhân M2 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi cũng như không có làm đơn yêu cầu độc lập trong vụ án.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng pháp luật, đối với người tham gia tố tụng vắng mặt không rõ lý do là chưa thực hiện đúng quy định.
Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T và anh L. Chấp nhận giao hai người con tên Nguyễn Hoàng Nhật D và Nguyễn Hoàng Nhã H1 cho chị T nuôi, anh L nuôi một người con tên Nguyễn Thanh Đ1, buộc anh L cấp dưỡng nuôi con nhỏ tên Nguyễn Hoàng Nhã H1 theo quy định của pháp luật.
Về tài sản: Chấp nhận cho chị T sở hữu chiếc xe chị đang quản lý, chị T giao anh L ½ giá trị.
Anh L sở hữu tài sản anh L quản lý gồm nhà và xưởng sửa chữa tàu, hai chiếc xe, một tủ lạnh, một bình nước lọc, một bồn nước, một thùng loa kéo, một bàn trang điểm và giao chị T ½ giá trị.
Đình chỉ yêu cầu của chị T về việc yêu cầu anh L2 trả nợ và chia hai với anh L.
Tài sản chiếc ghe không có căn cứ nên không chia.
Phần đất 13 công và đất chuyển nhượng của Trần Việt E chị T không yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án nên không đặt ra.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà P1: Buộc chị T và anh L cùng có trách nhiệm trả, mỗi người trả ½ đối với khoản nợ hụi chưa đóng, khoản hụi chưa đến hạn sẽ được giải quyết thành vụ án khác theo quy định.
Chi phí tố tụng và án phí đề nghị buộc đương sự chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Vụ việc theo yêu cầu của chị Lê Mỹ T, anh Nguyễn Văn L được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Ông Phước Văn Đ, bà Nguyễn Mỹ L1, ông Nguyễn Hoàng G, ông Nguyễn Văn L2, ông Trần Văn M, Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau và ông Trần Việt E có yêu cầu vắng mặt; bà Nguyễn Thị L3, bà Nguyễn Tuyết L4, ông Nguyễn Văn P, Công ty trách nhiệm hữu hạn N1 – Chi nhánh C và Mã Tam H – chủ doanh nghiệp tư nhân M2 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà không rõ lý do; căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
- [3] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Mỹ T và anh Nguyễn Văn L được xác lập vào năm 2008, đến ngày 14/12/2020 đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực nên hôn nhân được xác định là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.
Quá trình chị T và anh L chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là do có sự bất hòa nhau trong đời sống vợ chồng, thường không tin tưởng nhau làm cho cuộc sống không hạnh phúc. Hiện tại, anh chị đã sống ly thân nhau, thời gian kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa diệu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, phía chị T và anh L đều xác định không thể tiếp tục sống chung và đồng ý ly hôn với nhau. Xét thấy, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên công nhận thuận tình ly hôn giữa chị T và anh L là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- [4] Về con chung: Chị T và anh L có ba người con chung, sau khi ly hôn các đương sự thống nhất chị T nuôi hai người con đang ở với chị và anh L nuôi một người con đang ở với anh L, xét thấy sự thoả thuận của các đương sự trong việc nuôi con sau khi ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Chị T và anh L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng: Chị T và anh L có ba người con chung nên chị T và anh L phải cùng có trách nhiệm. Tuy nhiên, sau khi ly hôn anh chị đã thống nhất anh L nuôi một người con tên Nguyễn Thanh Đ1, chị T nuôi hai người con còn lại và được xác định nhiều hơn so với anh L nên anh L phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi một người con là phù hợp. Tại phiên tòa chị T cũng chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi người con nhỏ và phía anh L cũng đồng ý nên buộc anh L cấp dưỡng nuôi con tên Nguyễn Hoàng Nhã H1, sinh ngày 28/10/2020.
Về mức cấp dưỡng, Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại, anh L đang cư trú tại huyện T, tỉnh Cà Mau được xác định là vùng III có mức lương tối thiểu vùng là 3.640.000 đồng, căn cứ nhu cầu thiết yếu của việc nuôi con và điều kiện thực tế của mỗi bên nên buộc anh L cấp dưỡng nuôi con tên Nguyễn Hoàng N Hân mỗi tháng 1.820.000 đồng tương ứng ½ mức lương tối thiểu vùng là phù hợp với quy định tại Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Thực tế, anh chị sống ly thân từ tháng 01/2024 và thời điểm này chị T trực tiếp nuôi con tên H1 nên thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2024 đến khi Nguyễn Hoàng Nhã H1 đủ 18 tuổi.
Anh L phải chịu lãi suất nếu chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- [5] Về tài sản:
Ngôi nhà và giá trị đầu tư làm xưởng sửa chữa ghe tàu tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau theo định giá 121.073.000 đồng; một chiếc xe Wave giá 3.000.000 đồng; một chiếc xe Exciter biển kiểm soát 69N1-672.79 giá 26.000.000 đồng; một tủ lạnh 12.110.000 đồng; một bình nước lọc 2.887.500 đồng; một bồn nước 910.000 đồng; một thùng loa kéo 5.225.000 đồng; một bàn trang điểm 3.375.000 đồng. Chị T và anh L đều xác định là tài sản chung và chấp nhận chia hai, hiện tại số tài sản này anh L đang quản lý, sử dụng nên anh L được sở hữu và giao lại cho chị T 1/2 giá trị = 87.290.000 đồng (tính tròn).
Chiếc xe hon đa AIR BLADE hiện chị T đứng tên và đang sử dụng giá trị 25.000.000 đồng, anh chị chấp nhận chia hai nên chị T được sở hữu và giao cho anh 1/2 giá trị = 12.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản, chị T và anh L mỗi người hưởng 99.790.000 đồng (87.290.000 đồng + 12.500.000 đồng).
Chị T và anh L phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định của pháp luật đối với nghĩa vụ phải thực hiện.
Phần đất liên quan đế ụ tàu (xưởng sửa chữa tàu) đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên không đặt ra.
Về phần đất vuông tôm (nuôi trồng thủy sản) khoảng 13 công tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau phía chị T xác định là của ông G và bà L1 tặng cho. Tuy nhiên, tại phiên tòa đương sự không yêu cầu chia phần tài sản này nên không đặt ra giải quyết trong cùng vụ án.
Đất nền nhà chị T xác định nhận chuyển nhượng của ông Trần Việt E liên quan đến ông Trần Văn M, chị T và anh L không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc ghe chị T trình bày mua giá 25.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ xác định việc này là có thật nên không có cơ sở phân chia theo yêu cầu của chị T.
Ngoài ra, còn một số quần áo dùng để bán phía chị T và anh L đã phân chia xong nên không đặt ra.
- [6] Về khoản nợ bà Nguyễn Thị P1 yêu cầu, Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân trong khi đó anh L thừa nhận việc quản lý kinh tế, chi tiêu trong gia đình đều do chị T thực hiện. Mặt khác, việc chơi hụi mục đích để chi tiêu trong gia đình nên được xác định là nợ chung của anh L và chị T, do đó buộc anh L và chị T trả nợ theo yêu cầu của chị P1 đối với khoản nợ đã đến hạn là 120 triệu đồng trong đó phần hụi năm 2022 là 60 triệu và phần nợ năm 2023 là 60 triệu, mỗi người trả 1/2 = 60 triệu. Phần nợ còn lại 75 triệu trong đó nợ hụi 2022 là 10 triệu và nợ hụi năm 2023 là 65 triệu do chưa đến hạn thanh toán nên không giải quyết trong cùng vụ án nếu anh L và chị T không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi thì bà P1 có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Chị T và anh L phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định của pháp luật.
- [7] Khoản nợ bà Nguyễn Thị Mỹ đương S không có yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
Những khoản nợ còn lại do không có yêu cầu độc lập nên không giải quyết trong cùng vụ án, đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Về khoản nợ của Nguyễn Văn L2: Tại phiên tòa chị T rút lại yêu cầu này nên đình chỉ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [8] Xét ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên được chấp nhận.
- [9] Phía chị T và anh L đều được chia tài sản nên chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 400.000 đồng, thẩm định giá 15.000.000 đồng và đo đạc 10.896.000 đồng; tổng cộng 26.296.000, chị T và anh L mỗi người chịu 1/2 = 13.148.000 đồng, chị T đã nộp xong nên anh L phải giao cho chị T 13.148.000 đồng, anh L phải chịu lãi suất nếu chậm thi hành án theo quy định của pháp luật. Chị Lê Mỹ T và anh Nguyễn Văn L thuận tình ly hôn trước khi mở phiên toà nên chị T và anh L mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) = 75.000 đồng. Anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (cấp dưỡng) 300.000 đồng. Chị T và anh L mỗi người phải chịu án phí có giá ngạch đối với tài sản được chia sau khi đối trừ nghĩa vụ thực hiện đối với bà P1: (99.790.000 đồng – 60 triệu) = 39.790.000 đồng X 5% = 1.989.500 đồng. Chị T và anh L mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với nghĩa vụ trả nợ cho bà P1: 60 triệu đồng X 5% = 3.000.000 đồng theo quy định tại Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 6 Điều 26, khoản 6 và điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Phần tạm ứng án phí chị T và anh L đã nộp được khấu trừ, phần tạm ứng án phí của bà P1 đã nộp được nhận lại.
- [10] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117, Điều 45, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 157, Điều 165, Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 6 Điều 26, khoản 6 và điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa Lê Mỹ T và anh Nguyễn Văn L
Về con chung:
- Chị T nuôi con tên Nguyễn Hoàng Nhật D, sinh ngày 18/10/2015 và Nguyễn Hoàng Nhã H1, sinh ngày 28/10/2020 đang ở với chị T.
- Anh L nuôi con tên Nguyễn Thanh Đ1, sinh ngày 30/6/2009 đang ở với anh L.
- Buộc anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con tên Nguyễn Hoàng Nhã H1, sinh ngày 28/10/2020 mỗi tháng 1.820.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2024 đến khi Nguyễn Hoàng Nhã H1 đủ 18 tuổi.
- Chị T và anh L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của nhau.
- Vì lợi ích của con chưa thành niên nên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản:
- Anh Nguyễn Văn L được sở hữu ngôi nhà và giá trị đầu tư làm xưởng sửa chữa ghe tàu tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau; một chiếc xe Wave; một chiếc xe Exciter biển kiểm soát 69N1-672.79; một tủ lạnh; một bình nước lọc; một bồn nước; một thùng loa kéo; một bàn trang điểm hiện anh đang quản lý. Anh L có nghĩa vụ giao chị T 1/2 giá trị 87.290.000 đồng.
- Chị Lê Mỹ T được sở hữu chiếc xe hon đa AIR BLADE hiện chị T quản lý, sử dụng; chị T có nghĩa vụ giao anh L 1/2 giá trị 12.500.000 đồng.
- Phần đất vuông 13 công và phần đất liên quan đế ụ tàu (xưởng sửa chữa tàu) đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên không đặt ra; phần đất nền nhà chị T xác định nhận chuyển nhượng của ông Trần Việt E, chị T và anh L không yêu cầu giải quyết trong vụ án, đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
- Đối với số quần áo dùng để bán phía chị T và anh L đã phân chia xong nên không đặt ra.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyên Thị P3 về việc yêu cầu chị T và anh L trả nợ hụi thiểu.
- Buộc anh Nguyễn Văn L và chị Lê Mỹ T mỗi người có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị P1 60 triệu đồng.
- Phần hụi còn lại 75 triệu khi đến hạn nếu không thực hiện thì bà P1 có quyền khởi kiện tiếp theo.
Đình chỉ yêu cầu của chị Lê Mỹ T đối với khoản nợ liên quan đến anh Nguyễn Văn L2, đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Khoản nợ của ông Cao Văn T2 và Nguyễn Thu T3, ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Tuyết L4, bà Lê Hương T1, bà Nguyễn Thị L3, Mã Tam H, Nha khoa tâm Đ2, ông Phước Văn Đ do không có yêu cầu độc lập nên không giải quyết trong cùng vụ án, đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác theo quy định.
Khoản nợ bà Nguyễn Thị Mỹ đương S không có yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 400.000 đồng; chi phí đo đạc 10.896.000 đồng và chi phí thẩm định giá 15.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn L và chị Lê Mỹ T mỗi người chịu ½, chị T đã nộp xong nên anh L phải trả lại cho chị T 13.148.000 đồng.
Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng còn phải chịu thêm phần lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) chị Lê Mỹ T và anh Nguyễn Văn L mỗi người phải chịu 75.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (cấp dưỡng) anh Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng.
- Án phí có giá ngạch đối với tài sản được chia sau khi đối trừ nghĩa vụ thực hiện đối với bà P1, phía chị Lê Mỹ T và anh Nguyễn Văn L mỗi người phải chịu 1.989.500 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với nghĩa vụ trả nợ cho bà P1, phía chị Lê Mỹ T và anh Nguyễn Văn L mỗi người phải chịu 3.000.000 đồng
- Phần tạm ứng án phí của chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004784 ngày 02/4/2024 và 17.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004783 ngày 02/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được khấu trừ phần án phí chị T phải chịu, phần còn thừa chị T được nhận lại.
- Phần tạm ứng án phí của anh L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004931 ngày 08/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được khấu trừ phần án phí anh L phải chịu, phần còn thiếu anh L phải tiếp tục nộp.
- Bà Nguyễn Thị P1 không phải chịu án phí. Phần tạm ứng án phí của bà P1 đã nộp 4.875.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004978 ngày 16/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, bà P1 được nhận lại.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Hải |
Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T và anh L
