|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 43/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 06-3-2025
V/v ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
-Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Hoàng.
- Bà Trương Thị Kim Tiến.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - là cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa (toạ lạc tại Khu B, thị trấn H) tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1336/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/11/2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/01/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Q, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 07/11/2024 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị T trình bày: Chị và anh Huỳnh Văn Q sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ. Chị và anh Q chung sống được 5 năm. Đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, chị và anh Q sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, nay thấy tình nghĩa vợ chồng không thể hàn gắn nên chị xin được ly hôn với anh Q, vì bận công việc nên chị xin vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án.
Về con chung: Huỳnh Tấn Đ, sinh ngày 21/4/2014. Sau khi ly hôn chị xin tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Huỳnh Văn Q mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến và không có ý kiến phản hồi về yêu cầu xin ly hôn của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn Q, anh Q hiện có hộ khẩu thường trú tại ấp N, xã Đ, huyện Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là Thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Q đã được tống đạt các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng anh Q vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Huỳnh Văn Q chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa chị T và anh Q được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống, chị T và anh Q phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T xin ly hôn anh Q, anh Q không phản hồi ý kiến của chị T.
[3] Xét thấy chị T và anh Q chung sống với nhau, phát sinh mâu thuẫn nhưng tự khắc phục được mâu thuẫn nên để mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ khi xảy ra mâu thuẫn trong hôn nhân tới nay, anh Q cũng không tìm ra được biện pháp gì để vợ chồng được đoàn tụ, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa xét xử hôm nay, anh Q cũng không đến, không có thiện chí để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Do đó, xét thấy hôn nhân giữa chị T và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không có hạnh phúc, nên chị T xin ly hôn với anh Q là phù hợp với Điều 56 luật hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh Q.
Con chung: Huỳnh Tấn Đ, sinh ngày 21/4/2014. Sau khi ly hôn chị T xin tiếp tục nuôi con. Xét thấy, cháu Đ đang sống với chị T ổn định, cháu phát triển bình thường. Anh Q cũng không có ý kiến phản hồi về việc chị T xin nuôi con, nên thấy cần thiết để cho chị T tiếp tục nuôi con là phù hợp, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Đối với anh Q không phản hồi ý kiến yêu cầu xin ly hôn của chị T cũng không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên Tòa án không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[5] chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T đối với anh Huỳnh Văn Q về việc “ly hôn”.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T được ly hôn với anh Huỳnh Văn Q.
Việc nuôi con: Chị Lê Thị T được quyền tiếp tục nuôi cháu Huỳnh Tấn Đ, sinh ngày 21/4/2014 anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị T không có yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Chị T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
Nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị Tuyết C 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Chị T được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006503 ngày 07/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Quyên |
Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
