|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 02/6/2025
V/v: “Xin ly hôn và nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Rạng Đông;
Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dũng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 237/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/QÐST-HNGĐ ngày 09/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Diễm T, sinh năm: 1982 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Lê Thanh D, sinh năm: 1970 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Thái Hoàng L - Đoàn luật sư tỉnh K (có mặt).
Địa chỉ: Số D H, phường V, thành phố R, Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Diễm T trình bày:
Chị T và anh Lê Thanh D kết hôn với nhau năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thành phố P, Kiên Giang vào ngày 13/12/2005 và được UBND phường A cấp giấy chứng nhận kết hôn. Trong khoảng thời gian chung sống vợ chồng chị không có tiếng nói chung trong hôn nhân và bất đồng quan điểm với nhau. Rất nhiều lần chị muốn ly hôn, nhưng vì nghĩ đến các con, nên tự cho nhau nhiều cơ hội hàn gắn và sửa đổi nhưng không được. Sau nhiều lần cố gắng mà không giải quyết được tình cảm, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thanh D.
- Về con chung: Chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng hai con chung Lê Trần Phú N, sinh ngày 02/4/2011 và Lê Trần Phú K, sinh ngày 21/7/2021. Chị T yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu là 5.000.000 đồng/tháng, thanh toán hai lần trong năm vào các ngày 01/1 và 01/7, tổng mức cấp dưỡng mỗi lần là 60.000.000 đồng.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Lê Thanh D trình bày:
- Về hôn nhân giữa anh D và chị Trần Thị Diễm T là hôn nhân hợp pháp, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2024 thì vợ chồng mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nhỏ trong gia đình, nguyên nhân do anh D bận rộn công việc không có thời gian chăm sóc gia đình, anh D đã có thành ý và xin lỗi chị T. Đến nay anh nhận thấy mâu thuẫn chưa trầm trọng, nên anh không đồng ý ly hôn với chị Trần Thị Diễm T vì anh vẫn còn yêu thương vợ con, anh sẽ cố gắng hàn gắn cùng vợ để nuôi dạy con cái, và tiếp tục khắc phục những thiếu sót đem lại hạnh phúc cho gia đình mình.
- Về con chung: Không đồng ý giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, không đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của chị T.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Trần Thị Diễm T yêu cầu ly hôn với anh Lê Thanh D. Về con chung chị T, yêu cầu nuôi dưỡng Lê Trần Phú N, sinh ngày 02/4/2011, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Chị T xin rút lại yêu cầu cấp dưỡng. Đối với con chung Lê Trần Phú K, sinh ngày 21/7/2021, tại phiên tòa sơ thẩm chị T đồng ý để anh D tiếp tục nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lê Thanh D đồng ý ly hôn chị T. Về con chung anh D yêu cầu nuôi dưỡng con chung Lê Trần Phú K, sinh ngày 21/7/2021, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, anh D yêu cầu xem xét phần tài sản chung, khi chị T đi ra ngoài ở có đem theo tiền và vàng là tài sản chung của vợ chồng, ngoài ra vợ chồng còn có nợ chung, đề nghị giải quyết trong cùng vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm: Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn đồng ý ly hôn và thỏa thuận nuôi con, nên đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng bị đơn có người thứ ba, nên đề nghị ngừng phiên tòa để làm rõ mâu thuẫn dẫn đến ly hôn. Ngoài ra, bị đơn đề nghị xem xét, tài sản chung và nợ chung trong cùng vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
- Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử và trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định.
Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị T và anh D đăng ký kết hôn năm 2005, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa chị T và anh D thống nhất tự nguyện ly hôn, nên đề nghị công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T và anh D. Về con chung chị T và anh D thống nhất thỏa thuận, chị T tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Trần Phú N, sinh ngày 02/4/2011. Anh D tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Trần Phú K, sinh ngày 21/7/2021, đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, nên đề nghị công nhận thỏa thuận của các đương sự, chị T và anh D không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, chị T không yêu cầu nên miễn xét. Anh D có yêu cầu về tài sản chung và nợ chung thì khởi kiện thành vụ kiện khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Tại thời điểm chị Trần Thị Diễm T khởi kiện, bị đơn anh Lê Thanh D có nơi cư trú tại thành phố P, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ pháp luật là xin ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Trần Thị Diễm T, xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của nguyên đơn, theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét đề nghị ngừng phiên tòa của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là không có căn cứ xem xét, vì các bên đã thuận tình ly hôn tại phiên tòa, nên không cần thiết triệu tập thêm người tham gia tố tụng, để xác định mâu thuẫn ly hôn.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2005 chị Trần Thị Diễm T và anh Lê Thanh D tìm hiểu, tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn ngày 13/12/2005 tại UBND phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng chị T và anh D bất đồng quan điểm trong cuộc sống, làm cho tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị T và anh D không còn sống chung với nhau từ đầu năm 2025 đến nay. Xét thấy, chị T và anh D không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, nên đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa chị T và anh D tự nguyện ly hôn. Nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Diễm T và anh Lê Thanh D.
- Về con chung: Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T và anh D thống nhất thỏa thuận: Chị T tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Trần Phú N, sinh ngày 02/4/2011, phù hợp với nguyện vọng của cháu Phú N đồng ý sống chung với chị T. Anh D tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Trần Phú K, sinh ngày 21/7/2021. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của các đương sự. Chị T và anh D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh D đề nghị xem xét tài sản chung và nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, anh D không có đơn yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nên Hội đồng xét xử không xem xét, theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh D có quyền khởi kiện tranh chấp tài sản chung và nợ chung trong vụ án khác.
[3]. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Do chị Trần Thị Diễm T và anh Lê Thanh D thuận tình ly hôn tại phiên tòa, nên chị Trần Thị Diễm T và anh Lê Thanh D mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí không giá ngạch. Chị Trần Thị Diễm T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng. Nên chị T được hoàn trả lại số tiền 450.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 200, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 9, 51, 55, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Diễm T đối với anh Lê Thanh D về việc xin ly hôn và nuôi con chung.
- Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Trần Thị Diễm T.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Diễm T với anh Lê Thanh D.
[2]. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Trần Thị Diễm T và anh Lê Thanh D: Chị Trần Thị Diễm T tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Trần Phú N, sinh ngày 02/4/2011 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lê Thanh D tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Trần Phú K, sinh ngày 21/7/2021 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị T và anh D, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Không bên nào được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
[3]. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Diễm T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, anh Lê Thanh D có quyền khởi kiện, thành vụ án khác.
[4]. Về nợ chung: Chị Trần Thị Diễm T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về nợ chung, anh Lê Thanh D có quyền khởi kiện, thành vụ án khác.
[5]. Về án phí:
- Chị Trần Thị Diễm T phải chịu án phí thuận tình ly hôn 150.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0006785 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc. Nên chị Trần Thị Diễm T được hoàn trả lại số tiền 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
- Buộc anh Lê Thanh D phải chịu án phí thuận tình ly hôn 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).
[6]. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Diễm T và anh Lê Thanh D có mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Quách Văn Khánh |
Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
