Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/DS-ST

Ngày: 29 - 5 - 2025

V/v: “Tranh chấp thực hiện

nghĩa vụ trả tiền”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thanh Nga

2. Bà Lê Thị Kiều Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa:

Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2025/TLST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 quyết định hoãn phiên toà số 293/2025/QĐST – DS ngày 21 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV N.

Địa chỉ: số A, T, phường Đ, thành phố P, Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ - Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Kim S – Nhân viên.

Bị đơn: Ủy ban nhân dân thành phố P.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Nguyễn Hoàng T - Chủ tịch.

Địa chỉ: số D, T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Phạm Thị Minh H - Văn phòng luật sư Hoàng C.

Tại phiên toà có mặt đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Bị đơn có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*/Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trình bày: Vào cuối năm 2021, Công ty TNHH MTV N có cung cấp cho Ủy ban nhân dân thành phố P vật tư thiết bị y tế phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID - 19 với số lượng như sau:

  • 1/Găng tay khám bệnh 400.000 đôi, đơn giá 3.200 đồng; trị giá 1.280.000.000 đồng;
  • 2/Bộ quần áo bảo hộ 1.500 bộ, đơn giá 110.000đ, trị giá 165.000.000 đồng;
  • 3/Cồn 70 độ 11.000 lít, đơn giá 30.000đ, trị giá 330.000.000 đồng.

Việc cung cấp vật tư y tế không làm hợp đồng giữa 2 bên, tuy nhiên việc giao nhận vật tư y tế thể hiện qua phiếu xuất kho từ ngày 03/10/2021 đến ngày 16/10/2021.

Tổng số tiền mua vật tư y tế là 1.775.000.000 đ (Một tỷ, bảy trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

Và cùng thời gian năm 2021, Công ty TNHH MTV N có cung cấp cho Trung tâm y tế thành phố P để Trung tâm y tế thành phố P thực hiện xét nghiệm vi rút SARS – CoV -2 với số lượng que test là 25.000 que trị giá 1.650.000.000 đồng (giá 66.000 đồng/que). Việc cung cấp que test không làm hợp đồng mua bán giữa 2 bên, tuy nhiên việc giao nhận que test thể hiện qua phiếu xuất kho vào ngày 09/11/2021 người nhận đại diện Trung tâm y tế thành phố P là chị L ký nhận que test.

Từ khi Công ty cung cấp vật tư y tế cho Ủy ban nhân dân thành phố P và Trung tâm y tế thành phố P đến nay quí cơ quan vẫn chưa thanh toán trả tiền cho Công ty, mặc dù nhiều lần Công ty yêu cầu trả nợ.

Công ty N đã mua hàng, nhận hóa đơn đầu vào theo đúng quy định. Nhưng hiện tại, Công ty C1, chưa thể làm thủ tục xuất kho mà kỳ báo cáo quyết toán đã gần hết hạn. Công ty TNHH MTV N rất khó khăn trong vấn đề giải trình hàng tồn kho với Cơ quan thuế cũng như làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Công ty.

Ngày 24 tháng 12 năm 2024, Ủy ban nhân dân tỉnh B có quyết định 2258/QĐ – UBND về việc chuyển Trung tâm y tế thành phố P trực thuộc Sở Y tế về Ủy ban nhân dân thành phố P quản lý.

Nay Công ty TNHH MTV N yêu cầu Toà án giải quyết buộc Ủy ban nhân dân thành phố P phải thanh toán trả tiền mua vật tư y tế cho Công ty TNHH MTV N số tiền là 3.425.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/01/2022 đến 28/02/2025 (38 tháng) với lãi suất 10%/năm là 1.084.583.333 đồng. Tổng số tiền Ủy ban nhân dân thành phố P phải trả là 4.509.583.333 đồng.

Ngày 19/3/2025, Công ty TNHH MTV N có đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: xin rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu thanh toán que test với số lượng que test là 25.000 que trị giá 1.650.000.000 đồng (giá 66.000 đồng/que) để khởi kiện thành 1 vụ án khác.

Nay yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố P phải thanh toán trả tiền mua vật tư y tế cho Công ty TNHH MTV N số tiền gốc là 1.775.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/01/2022 đến 28/02/2025 với lãi suất 10%/năm là 562.083.333 đồng. Tổng số tiền Ủy ban nhân dân thành phố P phải trả là 2.337.083.333 đồng.

Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền bà Nguyễn Thị Kim S trình bày: Công ty TNHH MTV yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố P trả số tiền gốc 1.775.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/4/2025 là 591.666.666 đồng (1.775.000.000 đồng x 40 tháng x 10%/tháng = 591.666.666 đồng. Theo cách tính năm tài chính là 12 tháng). Tổng số tiền là 2.366.666.666 đồng. Công Ty TNHH MTV N không yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử và lãi chậm trả thi hành án.

* Tại văn bản số 2655/UBND –YT ngày 21/4/2025, ông Phan Nguyễn Hoàng T, đại diện bị đơn trình bày:

Căn cứ Công văn số 2800/UBND-TH ngày 29/7/2021 của UBND tỉnh B về việc tiếp tục triển khai Nghị quyết số 79/NQ-CP ngày 22/7/2021 của Chính phủ về mua sắm hóa chất, vật tư, trang thiết bị, phương tiện phục vụ phòng chống dịch Covid 19; Căn cứ tình hình dịch bệnh của địa phương, để đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách, giải quyết có hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn thành phố P, nhằm phát hiện, xác định sớm, xử lý, khống chế kịp thời, hạn chế thấp nhất sự lây lan trong cộng đồng. UBND thành phố đã chỉ đạo các cơ quan chức năng của thành phố mua sắm vật tư y tế và hóa chất sát khuẩn để phục vụ công tác phòng chống dịch Covid-19; Do tính chất cấp bách tại thời điểm dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp trên địa bàn thành phố, số vật tư do Trung tâm Y tế thành phố mua sắm không kịp thời, không đáp ứng được nhu cầu mặc dù đã có sự hỗ trợ của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh. Do đó, vào tháng 11 năm 2021, UBND thành phố đã giao Văn phòng HĐND và UBND thành phố phối hợp với các đơn vị có liên quan để thực hiện và lập các thủ tục theo quy định để mua sắm vật tư y tế và hóa chất sát khuẩn để kịp thời công tác xét nghiệm sàng lọc cộng đồng Covid-19 tại thời điểm đó trên địa bàn toàn thành phố. Trên cơ sở đó, Văn phòng HĐND và UBND thành phố đã mua nợ của Công ty TNHH MTV N với số tiền 1.775.000.000 đồng. Đến đầu năm 2022, mới có thống nhất chủ trương mua sắm đối với t đã nợ của Công ty TNHH MTV N nêu trên, việc thực hiện các theo quy định để thanh toán gặp nhiều khó khăn, mặc dù, UBND thành phố như Văn phòng HĐND và UBND thành phố đã có nhiều văn bản gửi đến cá ngành liên quan đề nghị được hướng dẫn, tháo gỡ, tuy nhiên, đến nay vẫn được giải quyết nên chưa thanh toán cho Công ty TNHH MTV N. Cụ thể:

  • Ngày 13/01/2022, UBND tỉnh B có Công văn số 168/UBND-TH về việc thống nhất chủ trương mua sắm phục vụ phòng, chống dịch COVID-19 năm 2022 của Văn phòng HĐND và UBND thành phố P;
  • Ngày 17/01/2022, UBND thành phố P đã ban hành Công văn số 218/UBND-TH về việc triển khai thực hiện mua sắm phục vụ phòng, chống dịch COVID-19 năm 2022 của Văn phòng HĐND và UBND thành phố P;
  • Ngày 28/7/2022, Sở Y tế có Công văn số 2940/SYT-KHTC đề nghị các Trung tâm Y tế huyện, thị xã, thành phố rà soát báo cáo kinh phí nợ đã mua thiếu, mượn hàng hóa để phục vụ công tác phòng chống dịch Covid-19. UBND thành phố xét thấy trường hợp này Văn phòng HĐND và UBND thành phố đã mua nợ vật tư y tế có tính chất tương tự giống như hướng dẫn của Sở Y tế tại Công văn số 2940/SYT-KHTC ngày 28/7/2022 nên đã có Công văn số 5585/UBND ngày 06/10/2022 đề nghị Sở Y tế tổng hợp trình UBND tỉnh xem xét, giải quyết khó khăn, vướng mắc nêu trên của UBND thành phố P. Tuy nhiên, UBND thành phố vẫn chưa được tháo gỡ vướng mắc các thủ tục cho đến nay, do đó chưa thanh toán được cho Công ty TNHH MTV N. Ủy ban nhân dân thành phố P có

ý kiến để Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà bị đơn có đơn xin xử vắng mặt.

*Ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:

Thống nhất lời trình bày của Ủy ban nhân dân thành phố P, đề nghị Toà án xét xử theo quy định pháp luật.

Vụ án không tiến hành hòa giải do bị đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng (nguyên đơn) đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo qui định của pháp luật. Và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Công ty TNHH MTV N khởi kiện bị đơn Ủy ban nhân dân thành phố P, yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố P phải trả cho phía nguyên đơn số tiền mua đã vật tư y tế. Đây là giao dịch dân sự giữa 2 bên, Ủy ban nhân dân thành phố P có trụ sở tại số D, T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 03 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thành phố P.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Vào cuối năm 2021, Công ty TNHH MTV N có cung cấp cho Ủy ban nhân dân thành phố P vật tư thiết bị y tế phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID - 19 với số lượng như sau:

  • 1/Găng tay khám bệnh 400.000 đôi, đơn giá 3.200 đồng; trị giá 1.280.000.000 đồng;
  • 2/Bộ quần áo bảo hộ 1.500 bộ, đơn giá 110.000đ, trị giá 165.000.000 đồng;
  • 3/Cồn 70 độ 11.000 lít, đơn giá 30.000đ, trị giá 330.000.000 đồng. Tổng số tiền mua vật tư y tế là 1.775.000.000 đ (Một tỷ, bảy trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

Việc cung cấp vật tư y tế giữa 2 bên không làm hợp đồng, tuy nhiên việc giao nhận vật tư y tế thể hiện qua phiếu xuất kho từ ngày 03/10/2021 đến ngày 16/10/2021.

Tại văn bản số 2655/UBND –YT ngày 21/4/2025, Ủy ban nhân dân thành phố P xác nhận đã mua nợ vật tư y tế của Công ty TNHH MTV N với số tiền là 1.775.000.000 đồng.

Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc bị đơn cho rằng do vẫn chưa được tháo gỡ vướng mắc các thủ tục cho đến nay, do đó chưa thanh toán được cho nguyên đơn số tiền nợ mua vật tư y tế thì ý kiến của bị đơn không có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ đây là giao dịch dân sự, có sự thoả thuận giữa 2 bên trên tinh thần tự nguyện, bên nguyên đơn có nghĩa vụ cung cấp thiết bị y tế cho bên bị đơn và bị đơn đã nhận đủ số lượng yêu cầu, do đó bên bị đơn phải có nghĩa vụ trả đúng số tiền giữa hai bên đã thoả thuận với nhau.

Việc bị đơn có vướng mắc về trình tự, thủ tục khi mua hàng thì đó là thủ tục hành chính của bên bị đơn không liên quan đến nghĩa vụ thanh toán trả nợ tiền mua hàng cho bên nguyên đơn.

Theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự về Thực hiện nghĩa vụ trả tiền quy định như sau: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thoả thuận”.

Từ những căn cứ trên, cho thấy nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền đã mua nợ vật tư y tế của nguyên đơn là 1.775.000.000 đồng thì có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn như sau:

Theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự về Thực hiện nghĩa vụ trả tiền quy định như sau: “Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả gốc và tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.

Nguyên đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố P trả tiền lãi tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/4/2025 là 591.666.666 đồng (1.775.000.000 đồng x 40 tháng x 10%/tháng = 591.666.666 đồng, Theo cách tính năm tài chính là 12 tháng của phía nguyên đơn).

Xét thấy, lãi suất nguyên đơn yêu cầu không vượt quá mức lãi suất quy định pháp luật, do vậy bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi là 591.666.666 đồng thì có cơ sở chấp nhận.

Đối với lãi suất từ ngày 01/5/2025 đến ngày xét xử và lãi chậm trả thi hành án, bị đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 280; Điều 468 Bộ luật dân sự.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Luật thi hành án dân sự.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV N.

Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P phải trả cho Công ty TNHH MTV N số tiền là 2.366.666.666 đ (Hai tỷ, ba trăm sáu mươi sáu triệu, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

2. Về án phí: Ủy ban nhân dân thành phố P phải nộp 79.333.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Công ty TNHH MTV N số tiền 56.255.000 đồng là tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai nộp tiền số 0002880 ngày 07/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự Phan Thiết.

Án xử công khai, sơ thẩm có mặt nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Thiết;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/DS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền

  • Số bản án: 43/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger