Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LỘC

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:43/2025/DS-ST

Ngày: 25-6-2025.

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Vân.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Lâm và Cái Diệu Trang
  • Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 94/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa:

  • Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
  • Địa chỉ: 2 N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lã Ngọc M – Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản ngân hàng S (theo văn bản ủy quyền số 4837/2023/UQ-TGĐ ngày 21/12/2023). Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Bị đơn: Ông Mai H, sinh năm 1986, địa chỉ: Thị trấn P, huyện P, thành phố H, vắng mặt lần 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/12/2023, các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngày 09/01/2020, ông Mai H có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Mai H, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Mai H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 55.000.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Mai H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 29.031.281 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm).

Do ông Mai Hoàng vi P nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/11/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc và yêu cầu thanh toán nhưng ông Mai H vẫn không có thiện chí trả nợ. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 33.310.712 đồng sang nợ quá hạn (gọi là nợ gốc) và tính lãi quá hạn hàng tháng trên dư nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng x 150%= 3,9%/tháng lãi quá hạn).

Tuy nhiên, ông H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó phía Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Mai H phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/06/2025 là 105.888.216 đồng (Bằng chữ: Một trăm lẻ năm triệu, tám trăm tám mươi tám nghìn, hai trăm mười sáu đồng), trong đó: Nợ gốc: 33.310.712 đồng; Lãi quá hạn: 72.577.504 đồng và khoản lãi phát sinh từ ngày 26/06/2025 theo hợp đồng cho đến khi trả xong các khoản nợ.

Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn cung cấp địa chỉ cư trú của bị đơn tại số A Đ, xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, qua xác minh xác định ông Mai H, sinh năm 1986 không có đăng ký thường trú, tạm trú và thực tế cư trú tại địa chỉ A Đ, xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh nhưng có hộ khẩu thường trú tại thị trấn P, huyện P, thành phố H. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã có quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc để giải quyết theo thẩm quyền.

Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc đã thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn biết, nhưng hết thời hạn bị đơn vẫn không có ý kiến trả lời.

Qua xác minh, chính quyền địa phương và gia đình cho biết ông Mai H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố G, thị trấn P, huyện P, thành phố H. Đại diện gia đình là bố ông H cho biết, ông H hiện đang đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương, gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt và đã thông báo cho ông H biết để liên hệ Tòa án làm việc, ông H biết nhưng không đến Tòa án để làm việc do bận công việc.

Bị đơn ông Mai H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa lần thứ nhất, bị đơn vắng mặt nên Tòa án hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa lần thứ 2, bị đơn vẫn tiếp tục vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn

Đại diện Viện kiểm sát trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong vụ án dân sự như sau:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, còn trong thời hiệu khởi kiện, xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tham gia tố tụng; quá trình xác minh, thu thập chứng cứ cũng như việc xét xử tại phiên tòa được thực hiện theo đúng quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn cản trở nên cần xét xử theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Mai H phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/06/2025 là 105.888.216 đồng (trong đó: Nợ gốc: 33,310,712 đồng; Lãi quá hạn: 72.577.504 đồng). Về án phí: Buộc ông Mai H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập bị đơn theo quy định tại Điều 177 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Mai H trả nợ gốc lãi theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Do đó, đây là vụ án tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 463 Bộ luật Dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, thành phố H theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hợp đồng tín dụng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và ông Mai H có hình thức và nội dung phù hợp với các Điều 401, Điều 402, Điều 405 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch.

Ngày 09/01/2020, ông Mai H có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho chủ thể là khách hàng cá nhân) với Ngân hàng Thương mại cổ phần S, thỏa thuận hạn mức sử dụng thẻ là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Mai H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 55.000.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 29.031.281 đồng. Ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/11/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H trả số tiền nêu trên là có căn cứ phù hợp với các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần chấp nhận.

Đối với khoản tiền lãi quá hạn: Đến ngày 25/6/2025, Ngân hàng xác định bị đơn còn nợ lãi quá hạn là 72.577.504 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy giữa nguyên đơn và bị đơn đã tự nguyện thỏa thuận lãi suất tại Điều 23 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và Ngân hàng yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi bị đơn trả hết nợ là có căn cứ đúng pháp luật phù hợp với quy định Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 100 Luật các Tổ chức tín dụng 2024 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 385 và Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015

Áp dụng Điều 100, Điều 103, Điều 107 Luật các Tổ chức tín dụng 2024;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí. Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Mai H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/06/2025 là 105.888.216 đồng (trong đó: Nợ gốc: 33.310.712 đồng; Lãi quá hạn: 72.577.504 đồng).

    Kể từ ngày 26/6/2025, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

  2. Về án phí: Buộc ông Mai H phải chịu 5.294.410 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 2.047.445 đồng tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0024106 ngày 27 tháng 2 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, thành Phố Hồ Chí Minh.

  3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - VKSND huyện Phú Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lộc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thanh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/DS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 43/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án tín dụng Sacombak-Mai Hoàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger