Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/DS-ST

Ngày: 13-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Minh

Các Hội thẩm nhân dân.

  • Bà Lê Thị Tự
  • Bà Lê Thị Diệu Tuyến

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Phương Trúc – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 3121/2024/TLST-DS ngày 14/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-DS ngày 25/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2025/QĐST-DS ngày 23/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P; Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà T, Số A đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tầng C, Số D đường H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 2081005/2024/UQ-OCB ngày 10/5/2024)

Bị đơn: Bà Nguyễn Minh H, sinh năm 1987, CCCD số [...]; Địa chỉ: C13 T, Chung cư A đường C, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/5/2024 của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Lê Văn S đều trình bày:

Nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tính dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 16/5/2022 cấp cho bị đơn thẻ MC EMV Platinum Credit Main Card, số tài khoản 6017677948500002, số thẻ 520980XXXXXX5158, hạn mức thẻ 110.000.000 đồng; Mục đích mở thẻ: mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng; Lãi suất thẻ từ ngày 15/6/2022 đến ngày 15/7/2022 là 30%/năm, từ ngày 16/7/2022 đến ngày 08/12/2023 là 33%/năm và từ ngày 09/12/2023 đến ngày 17/4/2025 là 49,5%/năm, phí chậm thanh toán 4%/số tiền chậm thanh toán. Áp dụng trên toàn bộ dư nợ cuối kỳ chưa thanh toán theo thông báo của bảng sao kê thẻ tín dụng hàng tháng.

Quá trình sử dụng thẻ, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 525.298.435 đồng, bị đơn đã thanh toán 323.369.330 đồng (gồm 311.710.867 đồng nợ gốc và 1.562.558 đồng nợ lãi, 10.095.905 đồng phí), còn nợ nguyên đơn 192.853.019 đồng (gồm 109.072.284 đồng nợ gốc, 83.780.735 đồng nợ lãi, 9.076.086 đồng phí). Nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng đến nay bị đơn vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 09/12/2023, nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ vào ngày 15/12/2024 là 109.072.284 đồng làm nợ gốc. Tổng nợ thẻ của bị đơn tạm tính đến ngày 13/6/2025 là 192.853.019 đồng, gồm: 109.072.284 đồng nợ gốc và 83.780.735 đồng nợ lãi.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả một lần toàn bộ ngay sau khi có Quyết định/Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho nguyên đơn 192.853.019 đồng còn nợ tạm tính đến 13/6/2025, gồm: 109.072.284 đồng nợ gốc và 83.780.735 đồng nợ lãi và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 14/6/2025 cho đến khi bị đơn hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Nguyên đơn rút yêu cầu bị đơn thanh toán 9.076.086 đồng tiền phí và tiền phí phát sinh từ ngày 14/6/2025 cho đến khi bị đơn hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn.

Bị đơn là bà Nguyễn Minh H không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tổng đạt thông báo thụ lý vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn cư trú tại C13 Trệt, Chung cư A đường C, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tính dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 16/5/2022, nguyên đơn thỏa thuận cấp cho bị đơn thẻ tín dụng hạn mức sử dụng là 110.000.000 đồng đúng như nguyên đơn trình bày. Việc cấp thẻ này được thực hiện theo Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng OCB dành cho khách hàng cá nhân có hiệu lực từ ngày 01/4/2022. Căn cứ vào Điều 405, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đây là loại hợp đồng theo mẫu được ký kết đúng theo quy định của pháp luật.

[5] Theo Bảng tính lãi phí thẻ tín dụng ngày 13/6/2025 và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án thì trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 525.298.435 đồng đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bị đơn đã thanh toán nhiều lần tổng cộng là 323.369.330 đồng; Trong thời gian này, bị đơn không khiếu nại các thông báo giao dịch, tiền lãi và dư nợ hàng tháng mà vẫn đóng tiền. Theo Điều 1.40 và Điều 15.1 Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng OCB dành cho khách hàng cá nhân có hiệu lực từ ngày 01/4/2022, C nhất vào Ngày đến hạn thanh toán, nếu bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đủ Số tiền thanh toán tối thiểu thì vào ngày tiếp theo Ngày đến hạn thanh toán, nguyên đơn sẽ chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn theo quy định tại Biểu phí dịch vụ Thẻ OCB từng thời kỳ. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng, Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng OCB dành cho khách hàng cá nhân có hiệu lực từ ngày 01/4/2022 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng OCB dành cho khách hàng cá nhân có hiệu lực từ ngày 01/4/2022, yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc bao gồm các giao dịch mua hàng, rút tiền mặt, phí chậm thanh toán, lãi, phí vượt hạn mức, phí rút tiền, phí thường niên được tính đúng theo thỏa thuận của hai bên.

[6] Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn, chuyển nợ quá hạn của thẻ tín dụng thẻ tín dụng từ ngày 15/11/2023 và tiến hành thu hồi nợ vay là đúng theo thỏa thuận của hợp đồng; Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng OCB dành cho khách hàng cá nhân có hiệu lực từ ngày 01/4/2022 và Luật Các tổ chức tín dụng.

[7] Tại Biểu phí dịch vụ thẻ OCB áp dụng từ ngày 21/11/2022 của nguyên đơn thì mức lãi suất là 33%/năm; mức lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn là 49,5%/năm. Xét thấy, theo quy định tại khoản 14 Điều 4 và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, khoản 1 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N về hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận thì tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức theo quy định của pháp luật. Mức lãi suất của nguyên đơn thỏa thuận với bị đơn phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[8] Từ những nhận định trên, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán 109.072.284 đồng nợ gốc và 83.780.735 đồng nợ lãi tính đến ngày 13/6/2025. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 14/6/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ theo Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng OCB dành cho khách hàng cá nhân có hiệu lực từ ngày 01/4/2022 và khoản 4 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

[9] Nguyên đơn rút yêu cầu bị đơn thanh toán 9.076.086 đồng tiền phí và tiền phí phát sinh từ ngày 14/6/2025 cho đến khi bị đơn hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn, việc rút yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút.

[10] Về án phí: Bị đơn phải chịu 9.642.651 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 405, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 14 Điều 4, khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Khoản 1 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N về hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Khoản 2 và khoản 4 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 07/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P.

    Buộc bà Nguyễn Minh H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P 192.853.019 đồng còn nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tính dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 16/5/2022 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng OCB dành cho khách hàng cá nhân có hiệu lực từ ngày 01/4/2022, gồm: 109.072.284 đồng nợ gốc và 83.780.735 đồng nợ lãi tính đến ngày 13/6/2025.

  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P về việc yêu cầu bà Nguyễn Minh H thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P 9.076.086 đồng tiền phí và phí phát sinh từ ngày 14/6/2025 cho đến khi bà Nguyễn Minh H hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
  3. Về án phí: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.465.963 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0046064 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Bà Nguyễn Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.642.651 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tính dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 16/5/2022 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng OCB dành cho khách hàng cá nhân có hiệu lực từ ngày 01/4/2022. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (14).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 43/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger