Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 43/2025/DS-PT

Ngày: 24/02/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Xuân Ninh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình và ông Đỗ Thế Bình

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 2 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 87/2024/TLPT-DS, ngày 12/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/DS-ST ngày 05/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá P, sinh năm 1965 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Ý, sinh năm 1952 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Ý.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Nguyễn Bá P trình bày:

Ông và bà Ý là người cùng thôn. Do có nhu cầu sử dụng tiền nên bà Ý có hỏi vay tiền ông nhiều lần. Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 01/2023, ông P đã nhiều lần cho bà Ý vay tiền, tổng số tiền vay là 600.000.000 đồng. Cụ thể các lần vay như sau:

- Ngày 09/11/2022 dương lịch, ông P cho bà Ý vay số tiền 200.000.000 đồng. Ông đã giao cho bà Ý đầy đủ số tiền 200.000.000 đồng và bà Ý xác nhận đã nhận đủ số tiền này trong giấy vay tiền. Bà Ý là người trực tiếp viết, ký và ghi rõ họ tên vào mục người vay tiền, có chữ ký của người làm chứng là anh Nguyễn Thành C (con trai của bà Ý). Ông chấp nhận việc bà Ý tự tính toán là đã trả lãi cho ông đến hết ngày 12/5/2023. Ngoài ra trước ngày 12/5/2023 bà Ý có trả thêm ông 02 triệu đồng, ông và bà Ý xác nhận 02 triệu đồng này cũng là trả tiền lãi của khoản vay 200 triệu. Ngày 12/5/2023 dương lịch bà Ý đã trả ông 100.000.000 đồng tiền gốc. Như vậy ở khoản vay này bà Ý còn nợ ông 100.000.000 đồng tiền gốc. Ông Phấn khởi K buộc bà Ý phải trả ông nợ gốc 100 triệu và nợ lãi kể từ ngày 13/5/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm, mức lãi suất ông yêu cầu là 1,5%/ 1 tháng.

- Ngày 30/11/2022 dương lịch bà Ý có vay của ông số tiền 300.000.000 đồng. Ông đã giao cho bà Ý đầy đủ số tiền vay là 300.000.000 đồng, hai bên có viết giấy vay tiền với nhau. Bà Ý là người trực tiếp viết giấy vay tiền cho ông, trong giấy vay tiền bà Ý cũng xác nhận đã nhận đủ số tiền vay 300 triệu đồng. Toàn bộ các nội dung trong giấy vay tiền đề ngày 30/11/2022 dương lịch là do bà Ý viết và ký tên. Ông chấp nhận việc bà Ý trình bày đã trả ông 03 tháng tiền lãi, tính đến hết tháng 2 năm 2023. Từ 1/3/2023 đến nay bà Ý chưa trả cho ông đồng tiền lãi, gốc vay chưa trả, nên ông khởi kiện buộc bà Ý phải trả ông số tiền gốc vay và lãi chưa trả tính từ ngày 01/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất là 1,5%/ 1 tháng.

- Ngày 09/1/2023 dương lịch bà Ý có vay của ông số tiền 100.000.000 đồng. Ông đã giao cho bà Ý đầy đủ số tiền vay là 100.000.000 đồng. Bà Ý đã viết giấy vay tiền cho ông toàn bộ các nội dung trong giấy vay tiền đề ngày 09/1/2023 dương lịch là do bà Ý viết và ký tên, bà Ý cũng xác nhận là đã nhận đủ số tiền vay. Ở khoản vay này ông chấp nhận việc bà Ý trình bày đã trả ông được 02 tháng tiền lãi, tính từ ngày vay đến hết ngày 09/3/2023. Từ ngày 10/3/2023 đến nay bà Ý chưa trả cho ông đồng tiền lãi nào, tiền gốc vay chưa trả. Ông khởi kiện buộc bà Ý trả ông số tiền gốc vay và tiền lãi còn nợ tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất là 1,5%/ 1 tháng.

Về việc trả lãi đối với 03 khoản vay nêu trên: Ông yêu cầu bà Ý tiếp tục trả tiền lãi trên số nợ gốc còn nợ tính từ thời điểm bà Ý vi phạm nghĩa vụ trả lãi đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất là 1,5%/tháng, không yêu cầu bà Ý trả lãi theo mức lãi suất thoả thuận là 3%/tháng nữa vì mức lãi suất này là vượt quá quy định của pháp luật. Tại buổi hoà giải lần 1 bà Ý có trình bày là đã trả ông tổng cộng 83 triệu đồng tiền lãi, do bà Ý tự tính toán, ông không có sổ sách theo dõi ghi chép nên không tính toán được cụ thể nên ông mới chấp nhận việc bà Ý trình bày đã trả lãi cho ông là 83 triệu. Tuy nhiên, khi tính toán lại ông chỉ chấp nhận việc bà Ý trả lãi cho ông kể từ ngày viết giấy vay nợ đối với từng khoản vay trên số tháng lãi bà Ý đã trả được.

Toàn bộ 03 khoản vay nêu trên đều là tiền của cá nhân ông P cho cá nhân bà Ý vay, các con của ông P; chồng, con của bà Ý không liên quan gì đến các khoản vay nêu trên, không có bất cứ quyền lợi và nghĩa gì liên quan đến các khoản vay này.

Bị đơn là bà Trần Thị Ý trình bày:

- Ngày 09/11/2022 dương lịch, bà vay của ông P số tiền 200.000.000 đồng. Ông P đã giao cho bà đầy đủ số tiền vay là 200.000.000 đồng và hai bên có viết giấy vay tiền. Bà là người trực tiếp viết, ký và ghi rõ họ tên vào mục người vay tiền, có chữ ký của người làm chứng là anh Nguyễn Thành C (con trai của bà), trong giấy vay tiền bà cũng xác nhận là đã nhận đủ số tiền vay. Ở khoản vay này bà Ý tính toán là đã trả lãi cho ông P đến hết ngày 12/5/2023 dương lịch, lãi trả là 3%/ 1 tháng. Ngoài ra trước ngày 12/5/2023 dương lịch, bà Ý có trả thêm cho ông P 02 triệu, bà xác định là trả thêm vào tiền lãi của số tiền vay 200 triệu. Cùng ngày 12/5/2023 dương lịch bà đã trả ông P 100.000.000 đồng tiền gốc. Như vậy từ ngày 13/5/2023 dương lịch bà còn nợ ông P 100 triệu tiền gốc và tiền lãi chưa trả của số tiền gốc vay 100 triệu.

- Ngày 30/11/2022 dương lịch bà có vay của ông P số tiền 300.000.000 đồng. Ông P đã giao cho bà Ý đầy đủ số tiền vay là 300.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy vay tiền với nhau. Toàn bộ các nội dung trong giấy vay tiền đề ngày 30/11/2022 dương lịch là do bà viết và ký tên, trong giấy vay tiền bà cũng xác nhận là đã nhận đủ số tiền vay. Ở khoản vay bà tự tính toán là đã trả ông P được 03 tháng tiền lãi. Từ ngày 01/3/2023 dương lịch đến nay bà chưa trả ông P đồng tiền lãi nào, gốc chưa trả.

Đối với khoản vay 300 triệu theo giấy vay tiền đề ngày 30/11/2022 dương lịch thì thực chất khoản vay được gộp lại từ những khoản vay sau:

Ngày 29/8/2022 bà vay của ông P 200 triệu đồng; Ngày 27/9/2022 bà vay của ông P 30 triệu đồng; Ngày 30/9/2022 bà vay của ông P 70 triệu đồng. Lãi suất thoả thuận của cả 03 khoản vay này là 3%/tháng. (Cả ba lần vay này bà đều viết giấy tờ vay nợ cho ông P và giấy tờ vay nợ ông P giữ nhưng không giao nộp cho Toà án). Việc trả lãi cụ thể như sau:

Ngày 29/9/2022 trả ông P 6.000.000 đồng tiền lãi/số tiền vay 200 triệu đồng.

Ngày 30/10/2022 trả ông P 9.000.000 đồng tiền lãi/số tiền vay 300 triệu đồng.

Ngày 30/11/2022 trả ông P 9.000.000 đồng tiền lãi/số tiền vay 300 triệu đồng.

Như vậy đối với các khoản vay 200 triệu đồng, 30 triệu đồng, 70 triệu đồng, bà đã trả lãi cho ông P xong đến ngày 30/11/2022.

Sau khi trả lãi xong của ba khoản vay này, bà viết lại giấy vay tiền đề ngày 30/11/2022 dương lịch với tổng số tiền vay là 300 triệu. Để thay cho 03 giấy vay tiền của 03 khoản vay nêu trên.

Từ ngày 30/11/2022 bà đã trả cho ông P được 03 tháng tiền lãi = 27 triệu tính đến hết tháng 2 năm 2023 dương lịch, bà tự tính toán và thừa nhận từ ngày 01/3/2023 đến nay chưa trả ông P đồng tiền lãi nào của khoản vay 300 triệu. Tiền gốc chưa trả.

Theo như bà tự tính toán nêu trên thì tổng số tiền lãi bà đã trả cho ông P ở khoản vay 300 triệu là 51 triệu. (Bao gồm cả việc trả tiền lãi của các khoản vay 200 triệu ngày 29/8/2022; khoản vay 30 triệu ngày 27/9/2022; khoản vay 70 triệu ngày 30/9/2022).

- Ngày 09/1/2023 dương lịch bà vay của ông P số tiền 100.000.000 đồng. Ông P đã giao cho bà đầy đủ số tiền vay là 100.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy vay tiền với nhau. Toàn bộ các nội dung trong giấy vay tiền đề ngày 09/1/2023 dương lịch là do bà trực tiếp viết và ký tên, bà cũng xác nhận là đã nhận đủ số tiền vay từ ông P. Ở khoản vay này bà tự tính toán đã trả cho ông P được 02 tháng tiền lãi, tính từ ngày 09/01/2023 đến ngày 09/3/2023 là 6.000.000đ. Như vậy tính từ 10/3/2023 đến nay bà chưa trả ông P đồng tiền lãi nào. Tiền gốc trưa trả.

Ông P đã nhiều lần yêu cầu bà trả tiền gốc và tiền lãi của ba khoản vay nêu trên tuy nhiên do làm ăn thua lỗ nên chưa có tiền trả. Nay ông Phấn khởi K ra Toà bà thừa nhận còn nợ của ông P tổng số nợ gốc là 500.000.000 đồng theo 03 giấy tờ vay tiền ngày 09/11/2022, 30/11/2022, và ngày 09/1/2023. Bà đề nghị ông P cho bà trả dần số nợ gốc 500 triệu nêu trên. Thời gian đầu trả ông P 02 triệu đồng tiền gốc/1 tháng. Sau này khi làm ăn phát triển thì số tiền gốc hàng tháng trả sẽ tăng lên theo khả năng trả nợ. Về số nợ lãi thì bà xin ông P miễn toàn bộ.

Ở cả ba khoản vay nêu trên, bà Ý xác định đây là khoản vay giữa cá nhân bà với cá nhân ông P, toàn bộ số tiền bà vay ông P bà sử dụng vào việc làm ăn riêng của bà, không sử dụng vào làm ăn kinh doanh chung với gia đình, cũng không dùng vào chi tiêu sinh hoạt chung của gia đình. Đề nghị Toà án không đưa chồng và các con bà, không đưa các con ông P vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Ông P và bà Ý đều thừa nhận: Trong giấy vay tiền của cả ba khoản vay nêu trên đều không xác định hạn vay, hạn trả nhưng thỏa thuận ngoài với nhau khi nào ông P cần tiền thì báo trước cho bà Ý 01 tháng hoặc 10 ngày, bà Ý có trách nhiệm thu xếp trả ông P cả gốc và lãi. Lãi suất hai bên thỏả thuận ngoài với nhau là 3%/tháng, tiền lãi thì trả theo từng tháng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P trình bày việc trả lãi giữa các bên không có giấy tờ ghi chép, chứng minh cụ thể, ông cũng không theo dõi và do thời gian đã lâu nên không nhớ chính xác. Nên ông thừa nhận việc tính toán trả lãi của bà Ý như sau:

- Đối với khoản vay 200.000.000 đồng ngày 09/11/2022 dương lịch, thừa nhận tính đến hết ngày 12/5/2023 bà Ý đã trả được 06 tháng tiền lãi = 36 triệu và 02 triệu đồng. Tổng cộng là 38.000.000 đồng tiền lãi.

- Đối với khoản vay 300.000.000 đồng ngày 30/11/2022 dương lịch, ông P thừa nhận tính đến hết tháng 2 năm 2023 bà Ý đã trả lãi cho ông P được 03 tháng = 27.000.000đ.

- Đối với khoản vay 100.000.000 đồng ngày 09/1/2023 dương lịch, ông P thừa nhận tính đến hết ngày 09/3/2023 bà Ý đã trả ông P 02 tháng tiền lãi = 6.000.000đ.

Ông không nhất trí với việc bà Ý tính đã trả tiền lãi của các khoản vay 200 triệu ngày 29/8/2022; khoản vay 30 triệu ngày 27/9/2022; khoản vay 70 triệu ngày 30/9/2022. Ông không có các giấy tờ vay nợ của các khoản vay này như lời trình bày của bà Ý, các khoản vay này như lời trình bày của bà Ý cũng không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của ông trong vụ án này, đề nghị Toà án không xem xét, giải quyết.

Nếu như phần lãi ông đã thu của bà Ý nêu trên vượt quá quy định của pháp luật thì ông đề nghị giải quyết theo luật và không có ý kiến gì thắc mắc. Ông yêu cầu bà Ý phải trả ông số nợ gốc còn lại chưa trả và số nợ lãi trên nợ gốc chưa trả với mức lãi suất là 1,5%/ 1 tháng.

Bà Ý xác định số tiền lãi đã trả như lời thừa nhận của ông P nêu trên là đúng, tuy nhiên, bà đề nghị tính thêm số tiền lãi bà đã trả của các khoản vay 200 triệu ngày 29/8/2022; khoản vay 30 triệu ngày 27/9/2022; khoản vay 70 triệu ngày 30/9/2022. Bà đề nghị nếu số tiền lãi đã trả nguyên đơn có phần vượt quá so với quy định của pháp luật thì phần lãi trả vượt quá đề nghị được trừ vào số nợ gốc tính từ thời điểm trả lãi cuối cùng của từng khoản vay. Về số nợ gốc còn nợ bà Ý xin được trả dần, và xin được miễn lãi.

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 186, 228, 235, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 274, 275, 276, 429, 463, 464, 465, 466, 468 và 469 Bộ luật dân sự 2015; Điều 5, 9 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Bá P. Buộc bà Trần Thị Ý phải trả cho ông Nguyễn Bá P tổng số tiền là: 603.946.940đ (Trong đó tiền gốc vay còn nợ là 467.180.000đ và tiền lãi chưa trả của số tiền gốc vay còn nợ là 136.766.940đ).

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các đương sự giữ nguyên lời trình bày về các căn cứ nêu trên, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]: Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Ý nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Ông Nguyễn Bá P và bà Trần Thị Ý có mối quan hệ quen biết do là người cùng thôn. Do có nhu cầu sử dụng tiền nên bà Ý đã hỏi vay ông P nhiều lần. Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 01/2023, ông P đã nhiều lần cho bà Ý vay tiền với tổng số tiền vay là 600.000.000 đồng. Ông P đã nhiều lần yêu cầu bà trả tiền gốc và tiền lãi của các khoản vay tuy nhiên do làm ăn thua lỗ nên bà Ý chưa có tiền trả. Nay ông Phấn khởi K ra Toà yêu cầu Toà án buộc bà Ý phải trả ông số tiền gốc vay và lãi chưa trả tính từ ngày 01/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất là 1,5%/ 1 tháng.

Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá P. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử, bị đơn bà Trần Thị Ý kháng cáo toàn bộ bản án.

Xét kháng cáo của bà Ý, Hội đồng xét xử thấy:

Hợp đồng vay tiền ngày 09/11/2022 dương lịch, ngày 30/11/2022 dương lịch và ngày 09/01/2023 dương lịch là hợp đồng vay không có kỳ hạn, có lãi. Nội dung của hợp đồng không vi phạm quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội. Khi ký hợp đồng vay tiền, ông P và bà Ý đều là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ về việc làm của mình. Việc ký kết giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, có đầy đủ chữ ký của bên vay và bên cho vay. Như vậy, Hợp đồng vay tiền này đã tuân thủ các quy định của pháp luật về cả nội dung và hình thức và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng. Hợp đồng vay tiền có hiệu lực ngay sau khi ký kết tuy nhiên đến tháng 12/2023, ông P có nhiều lần đòi tiền bà Ý nhưng bà Ý mới trả được cho ông P 100.000.000 đồng tiền gốc vay của khoản vay 200.000.000 đồng ngày 09/11/2022 ngoài ra bà Ý vẫn chưa trả cho ông P số tiền gốc nào khác, như vậy là bà Ý đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Về nghĩa vụ trả nợ lãi của các khoản vay: Ông P và bà Ý đều xác nhận hai bên đã thoả thuận mức lãi suất cho vay là 3%/ tháng. Tuy nhiên, việc thống nhất thoả thuận và thực hiện trả lãi giữa ông P và bà Ý với mức lãi suất 3%/ 1 tháng là thoả thuận vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự và Điều 9 Nghị Quyết 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm xác định bà Ý đã trả ông P tiền lãi vượt quá mức lãi suất quy định của pháp luật là 20%/năm nên phần trả lãi vượt quá bà Ý đã trả cho ông P được khấu trừ vào nợ gốc. Bà Ý đồng ý khấu trừ vào nợ gốc tính từ thời điểm trả lãi cuối cùng của từng khoản vay. Ông P đồng ý với việc khấu trừ vào nợ gốc như lời trình bày của bà Ý nên có cơ sở để chấp nhận.

Từ những phân tích trên có thể thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bà Ý phải trả cho ông P 603.946.940 đồng (trong đó tiền gốc vay còn nợ là 467.180.000đ và tiền lãi chưa trả của số tiền gốc vay còn nợ là 136.766.940đ) là đúng quy định của pháp luật bà Ý là người kháng cáo những không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ do đó cần bác toàn bộ kháng cáo của bà Ý.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DSST ngày 05/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[3] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bà Trần Thị Ý phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật tuy nhiên do bà Ý là người cao tuổi nên cần miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Ý.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Ý, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DSST ngày 05/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Bá P. Buộc bà Trần Thị Ý phải thực hiện nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Bá P tổng số tiền là: 603.946.940đ (Trong đó tiền gốc vay còn nợ là 467.180.000đ và tiền lãi chưa trả của số tiền gốc vay là 136.766.940đ).
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị Ý không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DSST ngày 05/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND huyện Gia Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Bình;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Xuân Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/DS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 43/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Bá P yêu cầu giải quyết tranh chấp HĐ vay tài sản với bà Trần Thị Y
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger