Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/DS-PT

Ngày 18-02-2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất

và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn

Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Kha

Ông Vũ Thế Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2023/TLPT-DS ngày 07 tháng 12 năm 2023 về: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 38/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:Ngô Thị Y, sinh năm 1954 và ông Trần Minh Đ, sinh năm 1954 (ông Đ chết ngày 31/12/2018)

Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Minh Đ:

+ Anh Trần Minh T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang

+ Chị Trần Thị Trúc L, sinh năm 1987.

Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Minh T, chị Trần Thị Trúc L là: Bà Ngô Thị Y, sinh năm 1954, địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, theo văn bản ủy quyền ngày 14/3/2019. (vắng mặt)

Người đại diện ủy quyền cho bà Y: Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1954. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Ngô Thị Y là: Bà Nguyễn Trần Thụy Q là Luật sư, thực hiện trợ giúp pháp lý Nhà nước. (có mặt)

* Bị đơn:Trần Thị T1, sinh năm 1966 và ông Phạm Văn T2, sinh năm 1969.

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị T1 là: Ông Phạm Văn T2, năm 1969. Địa chỉ: Ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang, theo văn bản ủy quyền ngày 21/11/2019. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phạm Văn T2 là: Luật sư Trần Văn C, Đoàn luật sư tỉnh K. (có mặt)

Địa chỉ: 233/01 L, P. V, Tp ., Kiên Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- UBND huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện A là: Ông Phan Quốc H, Trưởng Phòng tài nguyên và Môi trường huyện A, theo Quyết định ủy quyền số: 3140/QĐ-UBND ngày 23/10/2020 của Chủ tịch UBND huyện A. (có đơn xin vắng mặt)

- Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1954. (có mặt)

- Ông Trần Văn C1, sinh năm 1950. (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp C, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Bà Trần Thị L1, sinh năm 1963. (có mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn C1, bà Trần Thị L1 là: Bà Nguyễn Trần Thụy Q, là Luật sư, thực hiện trợ giúp pháp lý Nhà nước. (có mặt)

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn T2, bà Trần Thị T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn của ông Trần Minh Đ, bà Ngô Thị Y trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp này là của cha ông Trần Minh Đ tên Trần Văn G khai phá từ trước năm 1954, ông G sử dụng đến năm 1980 thì ông G giao quyền quản lý lại cho ông Đ, tổng diện tích 42.592 m², ông Đ quản lý sử dụng đến năm 1993 thì gia

đình hợp gia tộc (không có mặt ông Đ, bà Y, L1, C1) các cô, bác, chú của ông Đ phân chia diện tích 42.592 m², phần ông Đ được chia 10 công tầm 3 mét. Cùng năm 1993 ông Đ cho bà T1, ông T2 mượn 10 công đất tranh chấp này canh tác đến năm 1995 thì ông Đ lấy lại canh tác đến năm 1998 (03 năm) và từ năm 1998 ông Đ tiếp tục cho bà T1, ông T2 mượn canh tác đến năm 2014 thì phát sinh tranh chấp.

Lý do tranh chấp: Năm 1999 bà T1, ông T2 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ để thế chấp Ngân hàng nông nghiệp huyện A vay vốn, mấy năm đầu vay ít, sau đó vay nhiều nên ông Đ lấy giấy lại không tiếp tục cho mượn. Từ đó bà T1, ông T2 lập thủ tục và được Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trùng lên diện tích đất mà Ủy ban nhân dân huyện A đã cấp giấy cho ông Đ diện tích 36.115 m², thửa số 140, 141, 142 tờ bản đồ 02.

Về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Năm 1993 có đoàn đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Đ kê khai, đoàn cấp giấy chứng nhận QSD đất tiến hành đo đạc và Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Minh Đ đứng tên diện tích 36.115 m², thửa số 140, 141, 142 tờ bản đồ 02. Năm 2000 Ngân hàng nông nghiệp huyện A tự liên hệ với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện A cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ đó ông Đ, bà Y sử dụng giấy này đến nay. Năm 2009 ông Đ, bà Y mới biết việc Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T1 đứng tên.

Ông Đ, bà Y yêu cầu bà T1, ông T2 trả lại 10 công đất tầm 3 mét, vị trí theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án, vị trí: Hướng đông giáp đất ông D, ông Đ1, hướng tây giáp đất bà T1, bà L1, hướng nam giáp đất bà L1, ông C1, hướng bắc giáp đất ông Tư T3. Tọa lạc: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T1 số H00207 do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 02.12.2009, diện tích 42.592 m², ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, bà Ngô Thị Y yêu cầu ông Phạm Văn T2, bà Trần Thị T1 trả lại diện tích đất trồng lúa là 11.119,3 m²; xin rút lại yêu cầu đối với diện tích trồng cây lâu năm là 2.101,5 m²; yêu cầu hủy giấy chứng nhận cấp cho bà Trần Thị T1 đứng tên.

Tại phiên họp hòa giải và các lời khai tại Tòa án, bị đơn bà Trần Thị T1, ông Phạm Văn T2 trình bày:

Về Nguồn gốc đất tranh chấp này là của ông Trần Văn G khai phá trước năm 1954.

Về quá trình sử dụng: Ông Trần Văn G sử dụng từ năm 1954 đến năm 1980 thì ông G chết không để lại di chúc, từ năm 1980 bà T1 quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất này, lý do là bà T1 ở chung với mẹ ruột tên Nguyễn Thị N (bà N chết năm 1995), trong quá trình sử dụng đất đến năm 1986 thì Nhà nước cấp sổ thuế nông nghiệp cho bà T1. Bà T1 tiếp tục sử dụng đến năm 1991 thì bà Trần Thị L1 (chị ruột bà T1) tranh

chấp với bà T1 được anh em dàn xếp. Năm 1991 ông T2 chung sống với bà T1, từ đó ông T2 và bà T1 tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất này đến năm 2009 thì được Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T1 đứng tên, ông T2 không biết Ủy ban nhân dân huyện A đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông G đứng tên. Năm 1993- 1994 al hợp gia tộc, có mặt rất nhiều người nhưng không có mặt ông Đ. Trong quá trình sử dụng đất thì bà T1 có tranh chấp đất với ông Huỳnh Minh T4, Huỳnh Minh V (con ông Tư T3), năm 2009 bà T1 kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến ngày 02.12.2009 Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00207, diện tích 42.592 m², Từ đó vợ chồng ông T2, bà T1 canh tác đất cho đến nay.

Trong diện tích 42.592 m² đất này thì ông C1 sử dụng 05 công từ năm 1979 đến nay, bà L1 sử dụng 03 công tầm 3 mét từ năm 1991-1992 đến nay, còn lại vợ chồng ông T2, bà T1 sử dụng nuôi tôm, trồng lúa và trồng cây lâu năm. Năm 2015 ông Đấu tranh C2 với ông T2, bà T1 cho đến nay.

Theo yêu cầu của ông Đ và bà Y, ông T2, bà T1 có ý kiến như sau:

- Không chấp nhận yêu cầu của ông Đ, bà Y.

- Chấp nhận lập thủ tục tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C1 diện tích 5 công, bà L1 03 công tầm 03 mét.

- Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Đ đứng tên thửa số 140, 141, 142 tờ bản đồ 02, diện tích 36.115 m², Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 16/3/2000.

Tại phiên tòa, ông Phạm Văn T2 không chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Y, ông Trần Văn C1, bà Trần Thị L1; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Minh Đ đứng tên; đồng ý tách giấy chứng nhận quyền sử sử dụng đất cho ông Trần Văn C1 (02 thửa), bà Trần Thị L1.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị L1 trình bày: Về nguồn gốc đất là đúng như lời trình bày của ông Đ, bà Y và ông T2, bà T1.

Về quá trình sử dụng đất: Năm 1978 ông G, bà N cho ông C1 một phần (không biết bao nhiêu công) như hiện trạng mà ông C1 đang sử dụng, đến năm 1980 ông G chết. Bà N và các anh em của bà L1 gồm: Bà L1, ông Đ, bà Y, bà T1 sử dụng đất đến năm 1993 gia đình hợp gia tộc (không có mặt bà L1), sau đó không nhớ năm nào, ông Đ cho bà L1 03 công, từ đó bà L1 nhận lấy 03 công sử dụng đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay bà L1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà T1 đứng tên. Lý do diện tích đất trong giấy của bà T1 đứng tên có cả diện tích đất của bà L1 đang sử dụng. Bà L1 không đồng ý để ông T2 lập thủ tục tách giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất cho bà L1; yêu cầu ông Đ lập thủ tục tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L1 đứng tên theo diện tích bà L1 đang sử dụng.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị L1 yêu cầu công nhận diện tích đất đo thực tế 4.329 m²; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Thị T1 đứng tên.

- Ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K trình bày: Về nguồn gốc đất là đúng như lời trình bày của ông Đ, bà Y và ông T2, bà T1 và bà L1.

Về quá trình sử dụng: Năm 1978 ông G, bà N cho ông C1 một phần đất (không biết bao nhiêu công) đúng như hiện trạng mà ông C1, bà K đang sử dụng, đến năm 1980 ông G chết. Bà N và các anh em của ông C1 gồm: Bà L1, ông Đ, bà Y, bà T1 sử dụng đất đến năm 1993 gia đình hợp gia tộc phân chia đất (không có mặt ông C1), ông C1 sử dụng đất cho đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay ông C1, bà K yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà T1 đứng tên, công nhận quyền sử dụng đất ông Đ đứng tên, ông C1, bà K không đồng ý để ông T2, bà T1 lập thủ tục tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C1, bà K. Yêu cầu ông Đ lập thủ tục tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C1, bà K đứng tên, theo diện tích ông C1, bà K đang sử dụng.

Tại phiên tòa, ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị Kính yêu C3 công nhận diện tích đất mà ông Trần Văn G tặng cho vào năm 1979, đo thực tế đất trồng cây lâu năm là 1.057,4 m², đất trồng lúa là 9.177,5 m²; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Thị T1 đứng tên.

- Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện A xin vắng mặt, không có lời trình bày.

Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/DS-ST ngày 8 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Y, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Minh Đ: Chị Trần Thị Trúc L, anh Trần Minh T về việc đòi lại quyền sử dụng đất đối với đất tròng lúa đối với bà Trần Thị T1, ông Phạm Văn T2. Buộc bà T1, ông T2 trả lại quyền sử dụng đất đối với đất trồng lúa diện tích là 11.119,3 m² cho bà Y, chị L, anh T sử dụng, vị trí: Hướng đông điểm 12-13-14-15 là 122,31 mét, hướng tây điểm 6-8 là 74 mét, điểm16-17 là 37,3 mét, hướng nam điểm 8-17 là 64 mét, điểm 16-15 là 90 mét, hướng bắc điểm 6-12 là 98,88 mét, điểm 6-17 là 64 mét; đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn đôi với diện tích đất trồng cây lâu năm diện tích là 2.101,5 m²; công nhận cho bà Trần Thị L1 diện tích đất trồng lúa đo thực tế là 4329,0 m², vị trí: Hướng đông điểm16-17 là 37,3 mét, hướng tây điểm 9-19 là 42,0 mét, hướng nam điểm 19-21-16 là 108 mét, hướng bắc điểm 9-8-17 là 111 mét; công nhận cho ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K diện tích đất trồng lúa đo thực tế là 9.177,5 m², vị trí: Hướng đông điểm 15-22-23 là 51 mét, hướng tây điểm 21-25

là 55,5 mét, hướng nam điểm 25-24-23 là 183,6 mét, hướng bắc điểm 21-16-15 là 158 mét và đất trồng cây lâu năm là 1.507,4 m², vị trí: Hướng đông điểm 9-19 là 42 mét, hướng tây điểm 18-20 là 42 mét, hướng nam điểm 20-19 là 36 mét, hướng bắc điểm 18-9 là 36 mét;

Bà Trần Thị T1 được tiếp tục quản lý sử dụng diện tích đất còn lại của ông G, bà N là 10.531,5 m² tại thửa số 1, 2, 3 của Tờ trích đo số 93-2016 ngày 03/10/2016 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện A

(Vị trí khu đất, độ dài các cạnh tại các điểm giáp ranh, các hướng giáp ranh được mô tả theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 93-2016 ngày 03/10/2016 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A).

Bà Ngô Thị Y, anh Trần Minh T, chị Trần Thị Trúc L, ông Trần Văn C1, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị T1 có nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền lập thủ tục theo quy định để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Y, anh Trần Minh T, chị Trần Thị Trúc L, ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị T1, ông Phạm Văn T2 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ G000029/QSD/08/QĐ-UB, do Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho ông Trần Minh Đ ngày 16/03/2000, số thửa 140, 141, 142 diện tích 36115 m²; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: H00207 do Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho bà Trần Thị T1 ngày 02/12/2009, số thửa 22, tờ bản đồ 05 diện tích 42.592 m² và chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: H00208 do Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho bà Trần Thị T1 ngày 02/12/2009, số thửa 24, tờ bản đồ 05 diện tích 4.830 m².

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, chi phí tố tụng và báo quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19/9/2023 bị đơn bà Trần Thị T1, ông Phạm Văn T2 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với nội dung:

Đề nghị tòa cấp phúc thẩm xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác bác yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Đ, bà Y và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Đ. Bác yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00207, diện tích 42.592m² do UBND huyện A cấp cho bà T1 ngày 2/12/2009.

Đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G000029, ngày 16/3/2000 do UBND huyện A cấp cho ông Trần Minh Đ, thửa số 140, 141, 142; tờ bản đồ số 02, diện tích 36.115m². Tọa lạc tại ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Nếu không khắc phục được những vi phạm về phần tố tụng và nội dung vụ án thì đề nghị Tòa phúc thẩm hủy toàn bộ bản án số: 58/2023/DS-ST ngày 8/9/2023 của Tòa án huyện A.

* Tại phiên tòa phúc thẩm :

Các đương sự không tự hòa giải với nhau được, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Luật sư Nguyễn Trần Thụy Q trình bày:

Xác định nguồn gốc diện tích đất tranh chấp này là của cụ Trần Văn G, năm 1978 cụ G cho ông Trần Văn C1 một phần đất ở và một phần đất trồng lúa, năm 1993 ông Trần Minh Đ cho bà Trần Thị L1 một phần, Ủy ban nhân xã xác định là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Trần Thị T1 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Minh Đ là trùng vị trí khu đất. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, công nhận diện tích đất đo thực tế cho ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K, bà Trần Thị L1, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Thị T1 và năm 2009.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Phạm Văn T2, bà Trần Thị T1, Luật sư Trần Văn C trình bày:

Xác định nguồn gốc diện tích đất tranh chấp này là của cụ Trần Văn G, năm 1978 cụ G cho ông Trần Văn C1 05 công tầm 03 mét, năm 1993 ông Trần Minh Đ cho bà Trần Thị L1 03 công tầm 03 mét, ông T2 không đồng ý diện tích đo thực tế. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo giấy ủy quyền giao đất cho bà Trần Thị T1 canh tác nuôi mẹ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đ hết thời hạn. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Trần Minh Đ, không đồng ý tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn C1, bà Trần Thị L1.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến kết luận vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của bà Y do phần đất tranh chấp bà Y không có quá trình sử dụng từ năm 1991 và giấy chứng nhận hiện nay không còn thời hạn sử dụng. Phần đất tranh chấp do vợ chồng bà T1, ông T2 sử dụng và kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên được pháp luật công nhận.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét đơn kháng cáo của bị đơn; lời trình bày của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T1, ông T2, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm. Xét thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Trần Minh Đ, bà Ngô Thị Y; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L1, ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K1 yêu cầu bị đơn bà Trần Thị T1, ông Phạm Văn T2 trả lại quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy ” là phù hợp quy định của pháp luật.

[1.2] Sự vắng mặt của các đương sự:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Trần Minh T, chị Trần Thị Trúc L vắng mặt Có văn bản ủy quyền cho bà Ngô Thị Y tham gia tố tụng, theo văn bản ủy quyền ngày 14/3/2019. Bà Trần Thị T1 (vắng mặt) có văn bản ủy quyền cho ông Phạm Văn T2 tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 21/11/2019. UBND huyện A có đơn xin vắng mặt.

Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Nguyên đơn bà Ngô Thị Y yêu cầu :

Ông Phạm Văn T2, bà Trần Thị T1 trả lại diện tích đất trồng lúa là 11.119,3 m²; xin rút lại yêu cầu đối với diện tích trồng cây lâu năm là 2.101,5 m²; yêu cầu hủy giấy chứng nhận cấp cho bà Trần Thị T1 đứng tên.

[2.2] Bị đơn bà Trần Thị T1, ông Phạm Văn T2 có yêu cầu:

Không chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Y, ông Trần Văn C1, bà Trần Thị L1; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Minh Đ đứng tên; đồng ý tách giấy chứng nhận quyền sử sử dụng đất cho ông Trần Văn C1 (02 thửa), bà Trần Thị L1.

[2.3]Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.3.1 Bà Trần Thị L1 yêu cầu công nhận diện tích đất đo thực tế 4.329 m²; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Thị T1 đứng tên.

2.3.2 Ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị Kính yêu C3 công nhận diện tích đất mà ông Trần Văn G tặng cho vào năm 1979, đo thực tế đất trồng cây lâu năm là 1.057,4 m², đất trồng lúa là 9.177,5 m²; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Thị T1 đứng tên.

[3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Minh Đ, bà Ngô Thị Y:

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của cụ ông Trần Văn G, cụ bà Nguyễn Thị N khai phá trước năm 1954, cụ G, cụ N sử dụng đến năm 1978 cụ G, cụ Ngọc T5 cho ông C1 một phần đất trồng lúa, đo thực tế là 9.177,5 m² và ông Đ cho bà L1 diện tích đất trồng lúa 03 công tầm 03 mét, đo thực tế là 4.329 m², từ đó ông C1 và bà L1 sử dụng ổn định đến nay không tranh chấp; Năm 1980 đến năm 1984 ông Đ, bà Y sống chung với cụ

N và sử dụng toàn bộ diện tích đất còn lại của cụ G, cụ N, trong đó có 10 công đất là phần ông Đ được chia phần. Năm 1991 ông T2 chung sống với bà T1, cùng canh tác trên diện tích đất này, Năm 1993 họp gia tộc thì ông Đ giao cho bà T1 sử dụng toàn bộ diện tích đất còn lại của cụ G, cụ N và cả 10 công đất của ông Đ được chia phần cho bà T1 sử dụng để nuôi cụ N, cùng năm 1993 ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 36.115 m². Năm 1995 bà N chết không để lại di chúc, bà T1 và ông T2 tiếp tục quản lý sử dụng đất đến ngày 16/3/2000 Ủy ban nhân dân huyện A cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Minh Đ số vào sổ G000029, thửa 140, 141, 142, tờ bản đồ 2, diện tích 36.115 m².

Trong quá trình bà T1 sử dụng đất thì vào năm 2001 bà T1 kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, ngày 31/12/2001 bà T1 được được Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ G 000213, thửa 24, 22, 33, 31, tờ bản đồ 05, diện tích 34.615 m²; ngày 29/9/2009 bà T1 xin điều chỉnh lại diện tích giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 02/12/2009 Ủy ban nhân dân huyện A cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 635122, thửa số 22, tờ bản đồ 05, diện tích 42.592 m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 635123, thửa số 24, tờ bản đồ 05, diện tích 4.830.000 m², ông T2 và bà T1 sử dụng đất đến năm 2015 thì phát sinh tranh chấp với ông Đ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ, bà Y, ông T2, bà T1, ông C1, bà K, bà L1 đều khẳng định việc Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ và bà T1 là trùng vị trí khu đất, nhưng Tại Công Văn số: 21/TNMT ngày 10/9/2018 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện A và Công văn số 31/UBND ngày 13/02/2019 của Ủy ban nhân dân huyện A, có ý kiến là không có cơ sở để khẳng định vị trí khu đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ và bà T1 đứng tên là có trùng vị trí hay không.

Tại Công văn số: 16/CV-UBND ngày 10/08/2022 của Ủy ban nhân dân xã V xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Minh Đ và bà Trần Thị T1 đứng tên là trùng vị trí khu đất.

Về quá trình sử dụng đất bà Y, ông Đ không sử dụng phần đất này từ năm 1991 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ hiện nay không còn thời hạn sử dụng. Bà T1, ông T2 có quá trình sử dụng quản lý phần đất này từ năm 1991 đến nay và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2009 đến nay còn thời hạn sử dụng. Theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai nhà nước chỉ công nhận quyền sử dụng đất cho người đang trực tiếp canh tác và đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận theo quy định. Trong vụ kiện này ông T2, bà T1 đã thực hiện kê khai đăng ký, quản lý phần đất tranh chấp đúng theo quy định nên được pháp luật thừa nhận. Toà sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà Y là không đúng, không có căn cứ pháp luật.

Xét về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 1993 ông Đ kê khai đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện C4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu diện tích là 36.115 m² là chưa đúng với thực tế diện tích đất của ông Đ được phân chia, bởi ngoài diện tích 10 công tầm 03 mét của ông Đ, diện tích đất ông C1, bà L1 đang sử dụng ra thì còn có diện tích đất còn lại của cụ G, cụ N chưa tặng cho ai. Năm 2000, thực hiện theo Chủ trương của Nhà nước, ông Đ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ G000029/QSDĐ/08/QĐ-UB từ đó ông Đ, bà Y sử dụng đến nay. Thấy rằng, tại thửa số 140, diện tích 28.629 m² có thời hạn sử dụng đến tháng 03/2020, như vậy là đã hết thời hạn sử dụng. Do đó, không cần thiết phải giữ lại giấy; cùng vị trí khu đất này, năm 2001 bà T1 kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và năm 2009 điều chỉnh cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00207, số H00208 và từ đó ông T2 bà T1 sử dụng đến nay. Trong diện tích bà T1 được cấp giấy thì có cả diện tích đất của ông C1, bà L1 sử dụng ổn định không tranh chấp. Qua đó, cho thấy cùng một vị trí khu đất mà Ủy ban nhân dân huyện C4 giấy chứng nhận QSD đất cho ông Đ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T1 là chưa đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ đã hết hạn, ông Đ bà yến không có quá trình sử dụng đất. Giấy chứng nhận của bà T1 còn hạn sử dụng và có quá trình sử dụng đất liên tục từ năm 1991 đến nay nên được công nhận. Do đó nghị nên công nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn là phù hợp.

[4] Đối với yêu cầu của người liên quan:

Bà Trần Thị L1 yêu cầu công nhận diện tích đất đo thực tế 4.329 m²; Ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị Kính yêu C3 công nhận diện tích đất đo thực tế đất trồng cây lâu năm là 1.057,4 m², đất trồng lúa là 9.177,5 m² yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Thị T1 đứng tên.

Phần yêu cầu tranh chấp về đất các bên không có yêu cầu tranh chấp, Toà sơ thẩm chấp nhận yêu cầu là có căn cứ. Phần yêu cầu huỷ giấy của bà T1 được Toà sơ thẩm chấp nhận huỷ giấy là không có căn cứ.

[5] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn ông Phạm văn T2, bà Trần Thị T1:

Ông T2, bà T1 kháng cáo yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, là có căn cứ.

Từ những nhận định trên, sau khi thảo thuận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa, chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn và lời trình bày của người đại diện. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

[4] Về án phí:

- Án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ: Các Điều 5; Điều 100, 179 Luật đất đai năm 2013 và Điều 221 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị T1, ông Phạm văn T2.

- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn đôi với diện tích đất trồng cây lâu năm diện tích là 2.101,5 m².

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Y, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Minh Đ: Chị Trần Thị Trúc L, anh Trần Minh T về việc đòi lại quyền sử dụng đất đối với bà Trần Thị T1, ông Phạm Văn T2, trả lại quyền sử dụng đất diện tích là 11.119,3 m².

- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

1. Công nhận cho bà Trần Thị L1 diện tích đất trồng lúa đo thực tế là 4329,0 m², vị trí: Hướng đông điểm16-17 là 37,3 mét, hướng tây điểm 9-19 là 42,0 mét, hướng nam điểm 19-21-16 là 108 mét, hướng bắc điểm 9-8-17 là 111 mét;

2. Công nhận cho ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K diện tích đất trồng lúa đo thực tế là 9.177,5 m², vị trí: Hướng đông điểm 15-22-23 là 51 mét, hướng tây điểm 21-25 là 55,5 mét, hướng nam điểm 25-24-23 là 183,6 mét, hướng bắc điểm 21-16-15 là 158 mét và đất trồng cây lâu năm là 1.507,4 m², vị trí: Hướng đông điểm 9-19 là 42 mét, hướng tây điểm 18-20 là 42 mét, hướng nam điểm 20-19 là 36 mét, hướng bắc điểm 18-9 là 36 mét.

Ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị T1 có nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền lập thủ tục kê khai đăng ký cấp giấy cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Trường hợp ông Phạm Văn T2, bà Trần Thị T1 không tự nguyện giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K, bà Trần Thị L1 được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký tách thửa với diện tích đất nêu trên khi có yêu cầu.

Ủy ban nhân dân huyện A, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện A và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A căn cứ vào Bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang để thực hiện điều chỉnh biến động, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K, bà Trần Thị L1 theo nội dung trên.

3. Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Y, anh Trần Minh T, chị Trần Thị Trúc L, ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị T1, ông Phạm Văn T2 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ G000029/QSD/08/QĐ-UB, do Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho ông Trần Minh Đ ngày 16/03/2000, số thửa 140, 141, 142 diện tích 36115 m².

4. Không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: H00207 do Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho bà Trần Thị T1 ngày 02/12/2009, số thửa 22, tờ bản đồ 05 diện tích 42.592 m² và chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: H00208 do Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho bà Trần Thị T1 ngày 02/12/2009, số thửa 24, tờ bản đồ 05 diện tích 4.830 m².

5. Về chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ lần 1 là 11.094.000 đồng, theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 0008875 ngày 05/10/2016 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện A. Do bà Ngô Thị Y phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng này bà Ngô Thị Y đã nộp xong.

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ lần 2 là 16.795.994 đồng, theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000890 ngày 02/10/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện A. Do bà Trần Thị T1, ông Phạm Văn T2 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng này do bị đơn yêu cầu xem xét, thẩm định lại. Bị đơn bà T1, ông T2 đã nộp xong.

6. Về án phí:

6.1 Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phạm Văn T2, bà Trần Thị T1 được trả lại án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000254 ngày 15/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho bà Ngô Thị Y, chị Trần Thị Trúc L, anh Trần Minh T là 200.000 đồng, theo biên lai thu số 0001873 ngày 12/10/2015 và lai thu số 0000290 ngày 24/4/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho bà Trần Thị L1 là 200.000 đồng, theo biên lai thu số 0002071 ngày 08/3/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho ông Trần Văn C1, bà Huỳnh Thị K là 200.000 đồng, theo biên lai thu số 0002065 ngày 07/03/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh.

6.2. Án phí dân sự phúc thẩm:

Trả lại án phí phúc thẩm cho ông Phạm Văn T2, bà Trần Thị T1 do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận theo biên lai thu số 0001382 ngày 22/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện An Minh;
  • - Chi cục THADS huyện An Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Tấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/DS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 43/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Òng Đ, bà Y yêu cầu bà Tl, ông T2 trả lại 10 công đất tầm 3 mét, vị trí theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án, vị trí: Hướng đông giáp đất ông D, ông Đ1, hướng tây giáp đất bà T1, bà L1, hướng nam giáp đất bà L1, ông c 1, hướng bắc giáp đất ông Tư T3. Tọa lạc: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà TI số H00207 do ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 02.12.2009, diện tích 42.592 m2, ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Tại phiên tòa, bà Ngô Thị Y yêu cầu ông Phạm Văn T2, bà Trần Thị TI trả lại diện tích đất trồng lúa là 11.119,3 m2; xin rút lại yêu cầu đối với diện tích trồng cây lâu năm là 2.101,5 m2; yêu cầu hủy giấy chứng nhận cấp cho bà Trần Thị TI đứng tên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger