Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HSST

Ngày: 17-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Chí.

Ông Võ Trường Tam.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Nguyễn Trần Hoàng Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thanh H sinh ngày: 23/6/1974.

Tên gọi khác: Hùng Lai.

Nơi thường trú: E Đ, Phường A, Quận D, Tp.; Nghề nghiệp: mua bán phế liệu;

Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ) và bà Trần Thị B (đã chết); Bản thân có vợ tên Trần Thị D, có 01 con, sinh năm 1996;

Tiền sự: không;

Tiền án: 01. Bản án số 39/2022/HSST, ngày 04/4/2022, Tòa án nhân dân Quận 4, Tp. xử phạt 01 năm tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/11/2022, chưa xóa án tích;

Về nhân thân:

Bản án số 273/HSPT, ngày 14/4/1993, của Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội "Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân". (đã chấp hành xong án phạt tù).

2

Bản án số 1663/HSPT, ngày 11/9/1997, của Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 54 (năm mươi bốn) tháng tù về tội "Cướp tài sản của công dân" (đã chấp hành xong án phạt tù).

Bản án số 165/HSST, ngày 29/10/2001, của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" (đã chấp hành xong án phạt tù).

Bản án số 590/HSST, ngày 05/11/2001, của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 36 tháng tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" (đã chấp hành xong án phạt tù).

Quyết định số: 1248/2009/QĐ-UBND, ngày 12/10/2009, của Ủy ban nhân dân Quận D2, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng (đã chấp hành xong quyết định).

Quyết định số: 48/QĐ-XPVPHC, ngày 10/5/2014, của Công an xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi "Trộm cắp tài sản" (đã đóng tiền phạt).

Quyết định số: 104/2015/QĐ-TA, ngày 22/10/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng (đã chấp hành xong quyết định).

Quyết định số: 00194443/QĐ-XPVPHC Ngày 29/02/2020, của công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), về hành vi "Đánh bạc" (đã đóng tiền phạt).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/11/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Đoàn Thị Hồng Đ, sinh năm: 1976 (có mặt).

Cư trú: ấp N, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Thị M, sinh năm: 1944 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
  2. Phạm Văn H1, sinh năm: 1976 (vắng mặt).
    Cư trú: Ấp D, xã H, huyện B, Tp..
  3. Trần Thị D, sinh năm: 1974 (có mặt).
    Cư trú: E Đ, Phường A, Quận D, Tp..
  4. Văn Minh D1, sinh năm: 1988 (có mặt).
    Cư trú: A Đ, Phường A, Quận D, Tp..
  5. Đặng Kim N, sinh năm: 1973 (vắng mặt).

3

Cư trú: 1 Đ, Phường A, Quận D, Tp..

  1. Cao Phương T, sinh năm: 1990 (vắng mặt).
    Cư trú: 1090/96/27 B, Phường H, Quận D, Tp..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Đoàn Thị Hồng Đ trình báo Công an xã P, huyện C, tỉnh Long An là vào chiều ngày 31/10/2023 có người đột nhập vào nhà tại địa chỉ ấp N, xã P, huyện C lấy trộm một số tài sản gồm: 01 (một) chai nước hoa hiệu CHANEL, màu đen, thể tích 100ml đã qua sử dụng; 01 (một) nhẫn mặt vuông, loại vàng 9999, trọng lượng 05 (năm) chỉ; 01 (một) nhẫn có hột màu xanh, loại vàng 18K, trọng lượng 1,5 chỉ; tiền Việt Nam khoảng 78.000.000 đồng và tiền đô la Mỹ: 2.800 USD (mệnh giá 100USD/tờ).

Qua điều tra truy xét, Công an đã mời Trần Thanh H về làm việc, tại Cơ quan Công an H đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình vào ngày 31/10/2023 tại nhà chị Đ. Vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 31/10/2023, Trần Thanh H điều khiển xe môtô, loại Wave S, màu đen-bạc, biển số: 72C1-317.03 chạy trên đường T thì dừng lại ở một ngồi nhà ven đường ngồi uống nước. Lúc này, H thấy nhà của chị Đ cửa chính khóa, nhưng cửa rào không khóa, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, H quan sát xung quanh, một lúc sau điều khiển xe mô tô đi mua cà phê, đến khoảng 16 giờ 10 phút, cùng ngày, H điều khiển xe mô tô quay trở lại ngồi trên ghế đá uống và quan sát xung quanh không thấy ai, H mở cửa rào đi vào đến cửa nhà trước, dùng mỏ lết mang theo bẻ khoen khóa cửa rồi đi vào nhà tìm tài sản. Vào nhà, H phát hiện 01 (một) chai nước hoa hiệu CHANEL, màu đen, thể tích 100ml, đã qua sử dụng để trên tủ, H lấy chai nước hoa cầm trên tay và phát hiện 01 két sắt. H đi ra ngoài bỏ chai nước hoa vào trong túi trên xe môtô. Lúc này, H thấy 01 cây xà beng nhà bên cạnh. H qua lấy cây xà beng rồi bỏ vào trong hàng rào lưới B40 bên hông nhà chị Đ. Do sợ người dân phát hiện, H điều khiển xe mô tô chạy về hướng xã M khoảng 100m, ghé quán mua ly cà phê rồi quay đầu xe lại chạy đến trước hàng rào nhà chị Đ, dựng xe tại đây. H lại lấy cây xè beng để cạnh hàng rào trước đó, đi vào nhà cạy phá két sắt. Khoảng 10 phút sau, két sắt bị cạy bung ra, H phát hiện có 01 (một) hộp giấy, mở nắp hộp thấy có nhiều tiền, nên lấy toàn bộ tiền Việt Nam và tiền đô la M1 bỏ vào túi áo khoát. H đi ra ngoài điều khiển xe mô tô chạy về hướng thị trấn C. Khi đến quán nước không rõ tên, địa chỉ, H vào quán mua đồ và ngồi trên võng sắp xếp tiền trộm được rồi bỏ vào túi nylon, không có đếm lại. Về đến nơi ở tại thị trấn C, sau khi ăn uống tắm rửa H đến tiệm V thuộc khu phố K, thị trấn C mua 01 (một) chiếc nhẫn, loại vàng 610,

4

trọng lượng 01 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc lắc kiểu thẻ khoen lật, loại vàng 610, trọng lượng 02 chỉ 04 phân và 01 (một) dây chuyền kiểu ống-cong, loại vàng 610, trọng lượng 03 chỉ 02 phân hết số tiền 19.500.000 đồng (mười chín triệu năm trăm ngàn đồng) và 200 USD (02 tờ tiền Đô la Mỹ, mệnh giá 100 USD/tờ). Sáng ngày 01/11/2023, H đưa 600 USD (06 tờ tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100 USD) cho chị Đặng Kim N, ở gần nhà tại Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, H trả nợ chị N số tiền 100 USD và nhờ chị N đưa cho chị Trần Thị D là vợ của H số tiền 500 USD cất giữ; khoảng 10 giờ cùng ngày H gọi vợ là chị D hẹn đến gặp mình ở nhà thờ K tại đây H đưa cho chị D số tiền 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) để trả nợ cho anh Văn M2 D1 và người tên Đồng Đ1 (không rõ họ tên, địa chỉ), mỗi người 5.500.000 đồng; đến tối cùng ngày H tiếp tục trả nợ cho anh Cao Phương T số tiền 1.200 USD (12 tờ tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100 USD/tờ). Đến ngày 02/11/2023, H trả nợ cho người tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) số tiền 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm ngàn đồng). Ngoài ra từ ngày 31/10/2023 đến ngày 02/11/2023, H đã tiêu xài cá nhân hết số tiền khoảng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Ngày 03/11/2023, Công an mời H làm việc, tại đây Công an tạm giữ trong bóp da của H số tiền 21.200.000 đồng và 100 USD (01 tờ tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100USD). Trong đó, có 15.700.000 đồng, theo H khai là số tiền H mua, bán ve chai từ trước đến lúc bị bắt. Tổng tài sản mà Trần Thanh H thừa nhận trộm cắp tại Cơ quan cảnh sát điều tra là 01 chai nước hoa hiệu CHANEL, màu đen, thể tích 100ml, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 41.400.000 đồng và 2.100 USD.

Bản kết luận định giá tài sản số: 72/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C như sau:

01 (một) nhẫn mặt vuông, loại vàng 9999, trọng lượng 05 (năm) chỉ (tài sản chưa thu hồi được) có giá trị 29.100.000 đồng; 01 (một) nhẫn có hột màu xanh, loại vàng 18K, trọng lượng 1,5 chỉ (tài sản chưa thu hồi được) có giá trị: 5.565.000 đồng và tiền đô la Mỹ: 2.800 USD (28 tờ, mỗi tờ mệnh giá 100USD, đã thu hồi được 6 tờ = 600USD, chưa thu hồi được 22 tờ = 2.200 USD) có giá trị: 69.188.000 đồng (2.471.000 đồng/100USD)

Tổng giá trị tài sản định giá là 103.853.000 đồng (một trăm lẻ ba triệu tám trăm năm mươi ba ngàn đồng).

Bản kết luận định giá tài sản số: 73/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C như sau:

01 (một) chai nước hoa, hiệu CHANEL, màu đen, thể tích 100ml, đã qua sử dụng (thể tích còn lại khoảng 75ml), (tài sản đã thu hồi được) có giá trị là 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm ngàn đồng).

5

Bản kết luận định giá tài sản số: 76/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tổ tụng hình sự huyện C như sau: 01 (một) két sắt hiệu EAGLE FURNITURE, loại FIRE RESISTANT SAFE, kích thước 46cm x 59cm x 81cm, mua vào năm 2022, bị hư hỏng, có giá trị thiệt hại là 3.970.000 đồng (ba triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 46/CT-VKSCG ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Thanh H từ 04 năm đến 05 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Thanh H từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành về hai tội từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 09 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 bà khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Đề nghị áp dụng quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự để xử lý tang vật thu giữ:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, màu đen, dài 30 cm, trên mỏ lết có dòng chữ FORGED STEEL; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, màu đen, dài 66cm, đường kính 02 cm; 01 (một) nón kết màu xám; 01 (một) áo khoát màu đen có 02 (hai) tay áo có sọc màu trắng;

Đối với 01 (một) xe môtô, nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen-bạc, biển số: 72C1-317.03, đã qua sử dụng, chưa xác minh được nguồn gốc, nên Cơ quan cảnh sát điều tra có công văn chuyển Công an huyện C tiếp tục xác minh làm rõ theo thẩm quyền, là phù hợp.

Đối với: 01 (một) chiếc nhẫn, loại vàng 610, trọng lượng 01 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc lắc kiểu thẻ khoen lật, loại vàng 610, trọng lượng 02 chỉ 04 phân; 01 (một) dây chuyền kiểu ống, loại vàng 610, trọng lượng 03 chỉ 02 phân. Đề nghị tiếp tục tạm giữ, để đảm bảo thi hành án.

6

Đối với 01 (một) điện thoại di động, hiệu Redmi, màu xanh, sim số 0906674326 và 01 (một) đồng hồ đeo tay màu vàng - trắng, trên mặt đồng hồ có chữ RHYTHM và SAPPHIRE, là tài sản hợp pháp của bị cáo H không liên quan đến vụ án. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo H, là phù hợp.

Đối với số tiền 29.700.000 đồng tiền Việt Nam và số tiền 700 USD và (01 (một) chai nước hoa, hiệu CHANEL, màu đen, thể tích 100ml, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị hại chị Đoàn Thị Hồng Đ. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Đ, là phù hợp.

Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H phải cáo trách nhiện bồi thường cho bị hại Đoàn Thị Hồng Đ số tiền 52.300.000 đồng và 2.100 USD. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu bồi thường giá trị hai chiếc nhẫn trị giá 34.000.000 đồng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không có ý kiến tranh luận

Bị cáo nói lời sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 31/10/2023, Trần Thanh H đã đột nhập nhà chị Đoàn Thị Hồng Đ thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) chai nước hoa, hiệu CHANEL, màu đen, thể tích 100ml, đã qua sử dụng theo kết luận định giá là 1.700.000 đồng và sau đó bị cáo H tiếp tục dùng xà beng cạy phá két sắt lấy trộm tài sản của chị Đ, theo như bị cáo thừa nhận tại Cơ quan cảnh sát điều tra gồm: 2.100 USD (với tỷ giá quy đổi 24.710 đồng tiền Việt Nam/01 USD, tương đương tiền Việt Nam 51.891.000 đồng) và tiền Việt Nam 41.400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm là 94.991.000 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo H thừa nhận trộm tài sản của chị Đ gồm: 2.800 USD (với tỷ giá quy đổi 24.710 đồng tiền Việt Nam/01 USD, tương

7

đương tiền Việt Nam 69.188.000 đồng) và tiền Việt Nam 78.000.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo thừa nhận đã lấy trộm của bị hại trị giá là 148.888.000 đồng. Nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Xét thấy giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại theo lời thừa nhận tại phiên tòa là 148.888.000 đồng, tức trên 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp định khung hình phạt là “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Ngoài ra trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là tiền trong két sắt, thì bị cáo còn có hành vi dùng xà beng cạy phá két sắt của chị Đ với giá trị thiệt hại tài sản theo kết luận định giá là 3.970.000 đồng. Theo các hình ảnh có trong hồ sơ thể hiện, hiện trạng két sắt sau khi bị bị cáo dùng xà beng cạy phá đã hư hỏng không sử dụng được và lời khai tại phiên tòa cả bị cáo và bị hại, chị Đ đều xác định hiện két sắt bị phá hủy không còn giá trị sử dụng (chỉ bán phế liệu). Nên hành vi của bị cáo là hủy hoại tài sản (loại trừ hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản). Với hành vi hủy hoại tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng của bị cáo đã cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

[4] Ngoài ra theo như lời khai của bị hại tại phiên tòa, thì ngoài số tài sản là 01 (một) chai nước hoa trị giá 1.700.000 đồng, 2.800 USD và 78.000.000 đồng tiền Viện N1, thì số tài sản bị mất trộm còn: 01 (một) nhẫn mặt vuông, loại vàng 9999, trọng lượng 05 (năm) chỉ có giá trị 29.100.000 đồng; 01 (một) nhẫn có hột màu xanh, loại vàng 18K, trọng lượng 1,5 chỉ có giá trị: 5.565.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt theo bị hại khai giá trị là 183.553.000 đồng. Tuy nhiên ngoài lời trình bày thì bị hại không có chứng cứ gì chứng minh là tài sản bị mất trộm còn có 02 (hai) nhẫn, như đã nêu và qua đối chất giữa bị cáo và bị hại tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, cũng không chứng minh được số tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại, như lời bị hại khai.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản và lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo có 01 tiền án theo Bản án số 39/2022/HSST, ngày 04/4/2022, Tòa án nhân dân Quận 4, Tp.

8

xử phạt 01 năm tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/11/2022, chưa xóa án tích, ngày 31/10/2023 lại tiếp tục phạm tội mới đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với số tiền 21.200.000 đồng thu giữ từ bị cáo H (bóp da), do phần trách nhiệm dân sự bị cáo chưa bồi thường xong cho bị hại, nên không xem xét đến tình tiết giảm nhẹ là bồi thường một phần thiệt hại, khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nhưng cũng cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ là thu hồi được một phần tài sản trả lại cho bị hại, theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8] Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu. Cụ thể: đã ba lần bị Tòa án xét xử về các tội liên quan đến xâm phạm về sở hữu: "Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”; "Cướp tài sản của công dân"; "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" ; một lần bị Tòa án xét xử về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" và một lần bị Tòa án xét xử về tội “Đánh bạc”; một lần bị Ủy ban nhân dân Quận D2, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, một lần bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Đánh bạc”.

[9] Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy hiện bị cáo đang bị tạm giam và áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự.

[10] Đối với Trần Thị D, Đặng Kim N, Văn Minh D1, Cao Phương T, khi bị cáo H trả tiền và đưa tiền thì bị cáo H không nói nguồn gốc tiền ở đâu mà có. Nên hành vi của chị D, chị N, anh D1, anh T không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự. Đối với anh Phạm Văn H1 là chủ tiệm V, khi bán nữ trang vàng cho bị cáo, hoàn toàn không biết số tiền bị cáo mua vàng là do phạm tội mà có, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý, là phù hợp.

[11] Về tang vật thu giữ: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự để xử lý:

9

[11.1] Đối với: 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, màu đen, dài 30 cm, trên mỏ lết có dòng chữ FORGED STEEL, của bị cáo; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, màu đen, dài 66cm, đường kính 02 cm, không xác định được chủ sở hữu, là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy giá trị sử dụng không lớn, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) nón kết màu xám và 01 (một) áo khoát màu đen có 02 (hai) tay áo có sọc màu trắng là trang phục của bị cáo H mặc trên người khi gây án, lẽ ra hoàn trả cho bị cáo, nhưng tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại và xét thấy giá trị sử dụng không lớn, nên tịch thu tiêu hủy.

[11.2] Đối với: 01 (một) xe môtô, nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen-bạc, biển số: 72C1-317.03, đã qua sử dụng. Theo bị cáo khai là nhận cầm cố của một người tên N2, hiện chưa xác minh được ngồn gốc, nên Cơ quan cảnh sát điều tra có Công văn số 112/ĐTTH, ngày 02/4/2024 chuyển Công an huyện C tiếp tục xác minh làm rõ theo thẩm quyền, là phù hợp.

[11.3] Đối với: 01 (một) chiếc nhẫn, loại vàng 610, trọng lượng 01 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc lắc kiểu thẻ khoen lật, loại vàng 610, trọng lượng 02 chỉ 04 phân; 01 (một) dây chuyền kiểu ống, loại vàng 610, trọng lượng 03 chỉ 02 phân, là tài sản bị cáo H có được do sử dụng số tiền chiếm đoạt của bị hại để mua, do phần trách nhiệm dân sự chưa giải quyết xong, nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[11.4] Đối với 01 (một) điện thoại di động, hiệu Redmi, màu xanh, sim số 0906674326 và 01 (một) đồng hồ đeo tay màu vàng - trắng, trên mặt đồng hồ có chữ RHYTHM và SAPPHIRE, là tài sản hợp pháp của bị cáo H không liên quan đến vụ án. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo H (do chị Trần Thị D là vợ bị cáo nhận thay), là phù hợp.

[11.5] Đối với số tiền 29.700.000 đồng (hai mươi chín triệu bảy trăm ngàn đồng) thu giữ, gồm: 21.200.000 đồng thu giữ từ bị cáo H (bóp da); 5.500.000 đồng thu hồi của chị Trần Thị D và 3.000.000 đồng thu hồi từ anh Văn M2 D1 và số tiền 700 USD thu giữ, gồm: 01 tờ tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100USD/tờ thu giữ từ bị cáo H, 05 tờ tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100USD/tờ thu giữ từ chị Trần Thị D và 01 tờ tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100USD/tờ thu giữ từ chị Đặng Kim N. Xét thấy số tiền 29.700.000 đồng và 700 USD là tài sản hợp pháp của bị hại chị Đoàn Thị Hồng Đ. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Đ, là phù hợp. Đối với (01 (một) chai nước hoa, hiệu CHANEL, màu đen, thể tích 100ml, đã qua sử dụng (thể tích còn lại khoảng 75ml), là tài sản hợp pháp của bị hại chị Đoàn Thị Hồng Đ. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Đ, là phù hợp

[12] Về trách nhiệm dân sự: chị Đ đã nhận lại 01 (một) chai nước hoa hiệu CHANEL, màu đen, thể tích 100ml, đã qua sử dụng; số tiền 29.700.000 đ (hai mươi

10

chín triệu bảy trăm nghìn đồng) và 700 USD (bảy trăm đô la Mỹ). Đồng thời, chị Đ yêu cầu bị cáo H tiếp tục bồi thường 2.100 USD (hai ngàn một trăm đô la Mỹ) và số tiền 86.300.000 đồng (tám mươi sáu triệu ba trăm ngàn đồng) gồm: tiền bị mất là 48.300.000 đồng (bốn mươi tám triệu ba trăm ngàn đồng); trị giá 02 (hai) chiếc nhẫn là 34.000.000 đồng (ba mươi bốn triệu đồng) và trị giá két sắt là 4.000.000 (bốn triệu đồng). Trước yêu cầu của bị hại bị cáo đồng ý bồi thường 2.100 USD (hai ngàn một trăm đô la Mỹ) và số tiền 86.300.000 đồng (tám mươi sáu triệu ba trăm ngàn đồng), nên ghi nhận. Đối với số tiền 34.000.000 đồng là giá trị hai chiếc nhẫn chị Đ yêu cầu, bị cáo không đồng ý bồi thường vì bị cáo không chiếm đoạt. Xét thấy, qua lời khai của bà Trần Thị M3 là mẹ chị Đ thể hiện có trong hồ sơ là chị Đ có cất giữ 01 (một) nhẫn có hột màu xanh, loại vàng 18K, trọng lượng 1,5 chỉ của bà M3 và 01 (một) nhẫn mặt vuông, loại vàng 9999, trọng lượng 05 (năm) chỉ là tài sản do cha chị Đ chết để lại, tuy nhiên ngoài lời khai thì chị Đ không có chứng cứ nào khác để chứng minh, nên không thể chấp nhận.

[13] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền còn phải bồi thường cho bị hại là 104.191.000 đồng (2.100USD x 24.710 đồng/01 USD, tiền Việt Nam 48.300.000 đồng và giá trị két sắt 4.000.000 đồng) theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Hủy hoại tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Thanh H (H) 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành hai tội là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/11/2023.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (17/5/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

11

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, màu đen, dài 30 cm, trên mỏ lết có dòng chữ FORGED STEEL; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, màu đen, dài 66cm, đường kính 02 cm và 01 (một) nón kết màu xám, 01 (một) áo khoát màu đen có 02 (hai) tay áo có sọc màu trắng.

Tiếp tục tạm giữ: 01 (một) chiếc nhẫn, loại vàng 610, trọng lượng 01 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc lắc kiểu thẻ khoen lật, loại vàng 610, trọng lượng 02 chỉ 04 phân; 01 (một) dây chuyền kiểu ống, loại vàng 610, trọng lượng 03 chỉ 02 phân để đảm bảo thi hành án.

Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 34/QĐ-VKSCG ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Trần Thanh H có trách nhiệm bồi thường cho chị Đoàn Thị Hồng Đ số tiền 2.100 USD (hai ngàn một trăm đôla Mỹ) và 52.300.000 đồng (năm mươi hai triệu ba trăm ngàn đồng). Được khấu trừ giá trị 01 (một) chiếc nhẫn, loại vàng 610, trọng lượng 01 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc lắc kiểu thẻ khoen lật, loại vàng 610, trọng lượng 02 chỉ 04 phân; 01 (một) dây chuyền kiểu ống, loại vàng 610, trọng lượng 03 chỉ 02 phân.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.209.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

12

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THADS huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo; đương sự;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN CẦN GIUỘC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH LONG AN

Cần Giuộc, ngày 17 tháng 5 năm 2024

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 17 tháng 5 năm 2024.

Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Chí.

Ông Võ Trường Tam.

13

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HS, ngày 02/5/2024 đối với bị cáo: Trần Thanh Hùng.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ vào tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Hùng (Hùng Lai) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Hủy hoại tài sản”.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về hình phạt:

Xử phạt: Trần Thanh Hùng (Hùng Lai) 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành hai tội là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/11/2023.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (17/5/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

4. Các vấn đề khác:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, màu đen, dài 30 cm, trên mỏ lết có dòng chữ FORGED STEEL; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, màu đen, dài 66cm, đường kính 02 cm và 01 (một) nón kết màu xám, 01 (một) áo khoát màu đen có 02 (hai) tay áo có sọc màu trắng.

Tiếp tục tạm giữ: 01 (một) chiếc nhẫn, loại vàng 610, trọng lượng 01 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc lắc kiểu thẻ khoen lật, loại vàng 610, trọng lượng 02 chỉ 04

14

phân; 01 (một) dây chuyền kiểu ống, loại vàng 610, trọng lượng 03 chỉ 02 phân để đảm bảo thi hành án.

Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 34/QĐ-VKSCG ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Trần Thanh Hùng cùng có trách nhiệm bồi thường cho chị Đoàn Thị Hồng Đào số tiền 2.100 USD (hai ngàn một trăm đôla Mỹ) và 52.300.000 đồng (năm mươi hai triệu ba trăm ngàn đồng). Được khấu trừ giá trị 01 (một) chiếc nhẫn, loại vàng 610, trọng lượng 01 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc lắc kiểu thẻ khoen lật, loại vàng 610, trọng lượng 02 chỉ 04 phân; 01 (một) dây chuyền kiểu ống, loại vàng 610, trọng lượng 03 chỉ 02 phân.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: bị cáo Hùng phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.209.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 30 phút, cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

15

NGUYỄN MINH CHÍ – VÕ TRƯỜNG TAM

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản và hủy hoại tài sản

  • Số bản án: 43/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Hủy hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger