|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày: 13-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đại.
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trung Thiêng và ông Ngô Tình .
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hội, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Lương Thị Sinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS, ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Lưu Công L, sinh ngày 17/9/1990 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Công L1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ Phạm Thị Thu T và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: chưa.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Người bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Trinh N, sinh năm 1999;
- Bà Nguyễn Thị Lệ H1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. (Đã chết)
- Cháu Trần Tố L2, sinh năm 2017. Địa chỉ: Thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. (Đã chết)
Địa chỉ: Thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị Lệ H1:
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966 và bà Lê Thị S, sinh năm 1965; cùng địa chỉ: thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Là cha mẹ ruột của chị H1. Có mặt
Anh Trần Văn Quốc C, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ E T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Là chồng của chị H1. vắng mặt.
Cháu Trần Quốc T2, sinh năm 2014; địa chỉ: thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Là con ruột của chị H1. Vắng mặt
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại cháu Trần Tố L2:
Anh Trần Văn Quốc C, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ E T, xã T, huyện T, Tiền Giang. Là cha ruột cháu L2. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Quốc C1: Bà Lê Thị S, sinh năm 1965; địa chỉ: thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. (Văn bản ủy quyền ngày 02/11/2023)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Phạm Thị Thu T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966; địa chỉ: thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
- Người làm chứng:
- Ông Lưu Đức N1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
- Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
Tất cả người làm chứng vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/8/2022, sau khi đã nhậu và uống bia với bạn bè thì bị cáo L về nhà, sau đó bị cáo Lưu Công L điều khiển xe mô tô BKS 92F1-422.66 (xe này do bà Phạm Thị Thu T– vợ của L đứng tên đăng ký) theo hướng Thủy điện Duy S2 ra Quốc lộ A để chơi bida. Khi đến khu vực nhà thờ T3, thuộc thôn K, xã D, huyện D, bị cáo Lưu Công L điều khiển xe chạy rất nhanh ở phần đường bên trái theo hướng Luận lưu hành. Cùng lúc này xe mô tô BKS 92F1-405.98 do bà Nguyễn Thị Lệ H1 điều khiển chở bà Nguyễn Thị Trinh N và cháu Trần Tố L2 (con trai bà H1) lưu hành ở phần đường bên phải theo hướng đi của mình (hướng Quốc lộ A-Thủy điện D), thì mô tô BKS 92F1- 422.66 do bị cáo L điều khiển tông vào xe mô tô BKS 92F1-405.98 do bà H1 điều khiển, hai xe mô tô và bị cáo L, bà H1, bà N và cháu L2 ngã xuống đường. Bà H1, bà N, cháu L2 và bị cáo được đưa đến Trung tâm y tế huyện D để cấp cứu, bà Nguyễn Thị Lệ H1 chết cùng ngày, bà Nguyễn Thị Trinh N, cháu Trần Tố L2 và bị cáo được chuyển đến Bệnh viện Đ điều trị. Đến ngày 27/8/2022, cháu L2 chết; ngày 14/9/2022 bà N xuất viện, ngày 27/9/2022 bị cáo xuất viện.
+ Tại bản kết luận giám định tử thi số 198.22/KL-KTHS (PY), ngày 20/9/2022 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Thị Lệ H1 là do: sốc chấn thương, ngừng hô hấp – tuần hoàn, hậu quả của đa chấn thương: chấn thương sọ não hở, chấn thương ngực kín.
+ Tại bản kết luận giám định từ thi số 199.22/KL-KTHS (PY), ngày 26/9/2022 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận nguyên nhân chết của Trần Tố L2 là do: sốc chấn thương, sốc mất máu, suy hô hấp – tuần hoàn cấp không phục hồi, hậu quả của đa chấn thương: chấn thương sọ não hở, chấn thương ngực bụng kín.
+ Tại bản kết luận giám định thương tích số 514/GĐTT.22, ngày 09/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Thị Trinh N tại thời điểm giám định là 38% (Ba mươi tám phần trăm).
+ Tại bản kết luận giám định thương tích số 21/GĐTT.22, ngày 19/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lưu Công L tại thời điểm giám định là 74% (Bảy mươi tư phần trăm).
Bản cáo trạng số: 36/CT-VKSDX ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Lưu Công L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát huyện D vẫn giữ nguyên nội dung truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình sự: Áp dụng điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo với đại diện hợp pháp của bị hại, giữa bị cáo với bị hại bà Nguyễn Thị Trinh N, giữa bị cáo với ông Nguyễn Văn T1, cụ thể: Bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Trinh N số tiền 90.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Văn T1 số tiền 14.163.000 đồng, bồi thường cho người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị Lệ H1 và cháu Trần Tố L2 (người đại diện theo ủy quyền là bà Lê Thị S) số tiền 350.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được cho bà S số tiền 71.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bà S là 279.000.000 đồng. Đồng thời bị cáo phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Trần Quốc T2, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2014 (là con ruột của bà Nguyễn Thị Lệ H1), mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ ngày bà H1 chết (ngày 26/8/2022) cho đến khi cháu Trần Quốc T2 đủ 18 tuổi.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Đề nghị tiếp tục tạm giữ chiếc xe của bà Phạm Thị Thu T và 01 giấy phép lái xe đứng tên Lưu Công L để xử lý theo quy định.
Đối với xe mô tô, nhãn hiệu Grande, biển kiểm soát 92F1-405.98, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn T1. Việc trả lại này là đúng quy định nên không đề cập đến.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Phân tích các chứng cứ xác định các bị cáo phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Công L khai nhận toàn bộ diễn biến sự việc. Lời khai của bị cáo Lưu Công L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ vụ án, như: biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 26/8/2022; biên bản dựng lại hiện trường ngày; bản kết luận giám định về thương tích, bản kết luận về khám nghiệm tử thi, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/8/2022, bị cáo Lưu Công L chưa có giấy phép lái xe hạng A1, đã sử dụng bia (nồng độ cồn trong máu là 14,6 mg/L) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92F1-442.66 lưu hành trên đường ĐH1 theo hướng Thủy điện D - Quốc lộ A để đi chơi. Khi đến khu vực gần nhà thờ T3, thuộc thôn K, xã D, huyện D, do bị cáo điều khiển xe đã có nồng độ cồn, không chú ý quan sát, đi không đúng phần đường quy định nên xe mô tô do bị cáo điều khiển tông vào xe mô tô BKS 92F1-405.98 do bà Nguyễn Thị Lệ H1 điều khiển chở bà Nguyễn Thị Trinh N và cháu Trần Tố L2 theo chiều ngược lại làm hai xe ngã xuống đường, bà Nguyễn Thị Lệ H1 và cháu Trần Tố L2 chết, bà Nguyễn Thị Trinh N bị thương tích 38% (Ba mươi tám phần trăm).
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo Lưu Công L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như cáo trạng số: 36/CT-VKSDX ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[2] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Bị cáo Lưu Công L đường bộ là người đủ năng lực hành vi để nhận thức được việc tham gia giao thông đường bộ thì phải tuân thủ đầy đủ theo quy định nhưng khi bị cáo chưa có giấy phép lái xe mô tô A1; trước đó bị cáo đã uống bia nên có nồng độ cồn trong máu là 14,6 mg/L, bị cáo L vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92F1-442.66 đi sai làn đường, tông vào xe mô tô do bà Nguyễn Thị Lệ H1 điều khiển. Hậu quả, làm bà Nguyễn Thị Lệ H1 và cháu Trần Tố L2 chết, bà Nguyễn Thị Trinh N bị thương tích 38% (ba mươi tám phần trăm). Hành vi của bị cáo gây ra nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn giao thông trên địa bàn, gây dư luận rất xấu tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại, cụ thể bị cáo Lưu Công L đã tự nguyện bồi thường số tiền 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng); gia đình bị cáo có công với cách mạng; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi 02 con nhỏ, bản thân bị cáo cũng bị thương tật là 74% (Bảy mươi tư phần trăm). Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trong vụ tai nạn này, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, bị cáo chưa có giấy phép lái xe hạng A1, có sử dụng bia (nồng độ cồn trong máu là 14,6 mg/L), điều khiển xe đi không đúng phần đường quy định, nên xe mô tô bị cáo tông vào xe mô tô do bà Nguyễn Thị Lệ H1 điều khiển chở bà Nguyễn Thị Trinh N và cháu Trần Tố L2 đi theo chiều ngược lại. Hậu quả của vụ việc này là rất nghiêm trọng, làm bà Nguyễn Thị Lệ H1 và cháu Trần Tố L2 chết, bà Nguyễn Thị Trinh N bị thương tích 38% (ba mươi tám phần trăm). Do đó, mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo có nhiều tình tiết định khung như trên đã nêu nên Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
[4] Về dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và các bên đã tự nguyện thỏa thuận về dân sự, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị Trinh N tổng số tiền 90.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Văn T1 (chi phí sửa xe) tổng số tiền 14.163.000 đồng; bồi thường thiệt hại về tính mạng cho bà Nguyễn Thị Lệ H1 và cháu Trần Tố L2 tổng số tiền 350.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Trần Quốc T2, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2014 (con ruột bà H1) mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bà H1 chết (26/8/2022) đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Xét việc các bên tự thỏa thuận là phù hợp, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần chấp nhận. Đối với thiệt hại về tính mạng của bà Nguyễn Thị Lệ H1 và cháu Trần Tố L2 bị cáo đã bồi thường được 71.000.000 đồng, số tiền còn lại 279.000.000 đồng buộc bị cáo tiếp tục bồi thường.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự các vật chứng được xử lý như sau:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 92F1-442.66 do Phạm Thị Thu T đứng tên chủ sở hữu. Tại phiên tòa bà T và bị cáo L thừa nhận đây là tài sản chung của vợ chồng, đồng thời bà T thống nhất giao chiếc xe này cho cơ quan có thẩm quyền xử lý để đảm bảo cho việc bồi thường của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy việc tiếp tục tạm giữ chiếc xe này để đảm bảo cho việc thi hành án là phù hợp nên chấp nhận.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Grande biển kiểm soát 92F1-405.98 do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra Công an huyện D, tỉnh Quảng Nam đã trả lại xe này cho chủ sở hữu là đúng nên không đề cập đến.
- 01 Giấy phép lái xe, số hiệu 480185012505, mang tên Lưu Công L cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 giấy phép lái xe số hiệu 480185012505 mang tên Lưu Công L. Qua xác minh, Sở giao thông vận tải thành phố Đ xác nhận không cấp giấy phép lái xe có số hiệu như trên cho Lưu Công L. Bị cáo L cũng thừa nhận, giấy phép lái xe trên là do L mua của một người không rõ trên mạng internet để sử dụng khi tham gia giao thông. Hành vi này của Lưu Công L chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự. Cơ quan điều tra chuyển Công an huyện D xử phạt hành chính về hành vi trên.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Quảng Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lưu Công L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Lưu Công L: 04 (B) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo L đi chấp hành án.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tiếp tục tạm giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 92F1-442.66 do Phạm Thị Thu T đứng tên chủ sở hữu để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Lưu vào hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe, số hiệu 480185012505, mang tên Lưu Công L (Bản gốc);
(Các vật chứng này hiện tại đang ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/5/2024)
-
Về dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589, Điều 590, Điều 591 của Bộ luật dân sự, xử công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; buộc bị cáo Lưu Công L phải tiếp tục bồi thường thiệt hại như sau:
- Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị Trinh N số tiền 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng).
- Bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho ông Nguyễn Văn T1, số tiền 14.163.000 đồng (Mười bốn triệu, một trăm sáu mươi ba ngàn đồng).
- Bồi thường thiệt hại về tính mạng cho bà Lê Thị S (Là người đại diện hợp pháp và là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Lệ H1 và cháu Trần Tố L2) số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm, năm mươi triệu đồng). Bị cáo L đã bồi thường được 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng) cho bà S nên số tiền còn lại bị cáo L phải tiếp tục bồi thường là 279.000.000 đồng (Hai trăm, bảy mươi chín triệu đồng).
- Bị cáo Lưu Công L phải cấp dưỡng nuôi con của bà Nguyễn Thị Lệ H1 là cháu Trần Quốc T2, sinh ngày 01/01/2014 mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời gian bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày bà Nguyễn Thị Lệ H1 chết (ngày 26/8/2022) đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
-
Về án phí: áp dụng Điều 23, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lưu Công L phải chịu án phí như sau:
- 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm;
- 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí cấp dưỡng;
- 19.158.000 đồng (Mười chín triệu, một trăm năm mươi tám ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 13/5/2024); người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Đại |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án giam
