|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HS-PT Ngày: 26/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Thẩm phán: Ông Lý Thơ Hiền và bà Lê Thị Thái Lan;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 43/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc N và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Ngọc N (tên gọi khác: Phợ); sinh ngày 27/5/1985; Nơi cư trú: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: nuôi tôm; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1950; vợ Giãng Thị Kim Y, sinh năm 1992 (đã ly hôn), vợ Huỳnh Thị Trúc P, sinh năm 1992 (đã ly hôn); có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 05/9/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy An xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác năm 2010. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Hồ Ngọc P1, sinh ngày 12/03/1990; Nơi cư trú: khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: thợ sơn; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: chưa xác định, con bà Hồ Thị C, sinh năm 1967; vợ Phạm Thị Bích H, sinh năm 1994; có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 19/03/2022 bị Công an phường E, thành phố T ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác; Bị cáo bị tạm giữ 09 ngày (từ 23 giờ 30 phút ngày 30/01/2023 đến 23 giờ 30 phút ngày 08/02/2023). Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Văn Đình T1, sinh ngày 02/09/1979; Nơi cư trú: 1 N, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Đình T2, sinh năm 1963 và bà Phan Thị P2, sinh năm 1963; vợ Lê Thị T3, sinh năm 1978; có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, vụ án còn có 14 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 30/01/2023, Huỳnh Xuân L thống nhất cho các con bạc đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm (bài túlêkhơ) và xóc bầu cua được thua bằng tiền tại nhà ở của mình để thu tiền xâu. Cụ thể: Cho Huỳnh M1 và Nguyễn Đức T4 dùng phòng ngủ nhà mình để rủ rê những người khác uống cà phê tại quán nhà mình, tham gia đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua được, thua bằng tiền và thu tiền xâu mỗi đêm từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng; Thống nhất và cung cấp dụng cụ đánh bạc cho Nguyễn Ngọc N, Trần Văn C1, Nguyễn Hữu H1 và Hồ Văn H2 đánh bạc tại phòng khách dưới hình thức đánh bài phỏm (bài Túlơkhê) để thu tiền xâu mỗi ván ù 50.000 đồng.
Tối ngày 30/01/2023 tại phòng ngủ nhà Huỳnh Xuân L thì: Huỳnh M1 và Nguyễn Đức T4 rủ rê các con bạc, tổ chức đánh bạc và tham gia đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua được, thua bằng tiền cho các con bạc gồm Nguyễn Trọng S, Lê Thành T5, Văn Đình T1, Hồ Ngọc P1, Đặng Văn Đ, Huỳnh Xuân N1, Nguyễn Văn L1, Lê Văn H3, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Ngọc D và một số đối tượng chưa rõ lai lịch. Còn tại phòng khách nhà Huỳnh Xuân L thì: Nguyễn Ngọc N, Trần Văn C1, Nguyễn Hữu H1 và Hồ Văn H2 cùng nhau đánh bài phỏm (bài Túlêkhơ) được, thua bằng tiền. Đến 23 giờ thì bị Công an huyện T bắt quả tang. Kết quả điều tra xác định:
- Tại sòng bạc dưới hình thức đánh bài phỏm (bài Túlêkhơ) ở phòng khách nhà Huỳnh Xuân L:
Trần Văn C1 mang theo và sử dụng 2.800.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, kết quả thắng 3.000.000 đồng, (trong đó xâu cho chủ nhà Huỳnh Xuân L 100.000 đồng, còn 2.900.000 đồng). Thời điểm bị bắt còn lại 5.700.000 đồng (gồm: tạm giữ trên 3.200.000 đồng, 2.500.000 đồng bỏ tại chiếu bạc).
Nguyễn Ngọc N mang theo và sử dụng số tiền 400.000 để đánh bạc. Kết quả thua số tiền 150.000 đồng, khi bị bắt quả tang mang theo số tiền 250.000 đồng dùng đánh bạc bỏ chạy. Sau đó, cơ quan Công an mời làm việc và tự nguyện giao nộp số tiền dùng đánh bạc còn lại 250.000 đồng.
Nguyễn Hữu H1 mang theo 14.000.000 đồng, sử dụng 3.500.000 để đánh bạc, còn 10.500.000 đồng cất trong người, không dùng đánh bạc. Kết quả thua 2.500.000 đồng. Thời điểm bị bắt bỏ tại chiếu bạc 1.000.000 đồng, tạm giữ trên người số tiền 10.500.000 đồng không dùng đánh bạc.
Hồ Văn H2 mang theo 9.160.000 đồng, sử dụng số tiền 1.160.000 đồng để đánh bạc, còn lại 8.000.000 đồng cất trong người, không dùng đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, kết quả thua số tiền 350.000 đồng, xâu cho Huỳnh Xuân L 50.000 đồng, tạm giữ số tiền 760.000 đồng bỏ tại chiếu bạc, trước chỗ ngồi.
Tổng số tiền đánh bạc (bài Túlêkhơ) là 7.860.000 đồng. Trong đó: Tiền trên chiếu bạc 4.260.000 đồng (gồm H1 1.000.000 đồng, C1 2.500.000 đồng; H2 760.000 đồng). Tiền tạm giữ trên người tiền, sử dụng để đánh bạc 3.350.000 đồng (gồm: C1 3.200.000 đồng, L 150.000 đồng). Tiền dùng để đánh bạc Nguyễn Ngọc N tự nguyện giao nộp 250.000 đồng.
- Tại sòng đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua ở phòng ngủ nhà Huỳnh Xuân L:
Huỳnh Mừng: Ngày 23/01/2023 tại quán cà phê nhà Huỳnh Xuân L, thì Huỳnh M1 thống nhất cùng với Nguyễn Đức T4 góp tiền làm cái xóc bầu cua, ăn thua bằng tiền, chia theo tỉ lệ 9/1 (Mừng 9 phần, Thuận 1 phần). Mừng chuẩn bị dụng cụ đánh bạc và rủ rê các con bạc tham gia đánh bạc. Sau đó theo quy luật các con bạc biết và tự đến nhà L để chơi đánh bạc do M1 làm cái từ 20 giờ hôm trước đến 01 giờ sáng hôm sau. Ngày 30/01/2023 M2 mang theo 01 bộ chén đĩa bằng kim loại để xóc bầu cua, ba họp tích và 01 tờ giấy bìa hình chữ nhật có in hình Bầu, C2, T7, C3, G, N2 và số tiền 7.000.000 đồng đến nhà L làm cái xóc bầu cua. Quá trình đánh bạc Mừng giữ tiền đánh bạc và cùng với T4 thay nhau làm cái, khi đến M1 làm cái, các nhà con đang đặt cược, chưa có kết quả thắng, thua thì bị bắt quả tang. Kết quả M1 thắng 4.500.000 đồng, tạm giữ trên người số tiền 2.830.000 đồng, còn số tiền 8.670.000 đồng bỏ tại chiếu bạc.
Nguyễn Đức T4: Thống nhất với Huỳnh M1 góp tiền làm cái xóc bầu cua ăn thua bằng tiền, chia theo tỉ lệ 1/9 (Thuận 1 phần, Mừng 9 phần). T4 mang theo và sử dụng số tiền 600.000 đồng góp làm cái với M1 nhưng còn giữ trên người chưa đưa cho M1. Quá trình đánh bạc M1 và T4 thay nhau làm cái. Khi bị bắt quả tang tạm giữ trên người số tiền 600.000 đồng.
Hồ Ngọc P1: Mang theo số tiền 7.300.000 đồng, nhưng sử dụng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, cất trong người 6.800.000 đồng để chi tiêu cá nhân. Phi tham gia đặt cược hai ván, ván thứ nhất 100.000 đồng, kết quả thua, ván thứ hai đặt 100.000 đồng chưa có kết quả thì bị bắt quả tang, tạm giữ tại chiếu bạc 100.000 đồng, ném bỏ tại chiếu bạc 300.000 đồng, tạm giữ trên người số tiền 6.800.000 đồng không dùng đánh bạc.
Nguyễn Văn L1: Mang theo số tiền 12.000.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, còn lại 10.000.000 đồng không dùng đánh bạc. L1 tham gia nhiều ván, đặt cược ván thấp nhất 50.000 đồng ván cao nhất 200.000 đồng. Khi chuẩnbị đặt cược ván tiếp theo thì bị bắt quả tang. Kết quả thua 500.000 đồng, tạm giữ trên người tổng số tiền 11.500.000 đồng, trong đó tiền dùng đánh bạc 1.500.000 đồng, tiền không dùng đánh bạc 10.000.000 đồng.
Lê Thành T5: Mang theo số tiền 6.800.000 đồng, sử dụng số tiền 2.800.000 đồng để đánh bạc, còn lại 4.000.000 đồng không dùng để đánh bạc. Tham gia nhiều ván, thấp nhất 100.000 đồng, cao nhất 600.000 đồng, khi đặt cượt số tiền 100.000 đồng thì bị bắt quả tang. Kết quả thua 1.700.000 đồng, tạm giữ trên người 5.000.000 đồng, trong đó tiền dùng đánh bạc 1.000.000 đồng, tiền không dùng đánh bạc 4.000.000 đồng.
Huỳnh Xuân N1: Mang theo số tiền 1.960.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia đặt cượt nhiều ván, ván thấp nhất 50.000 đồng, ván cao nhất 100.000 đồng, khi đang đặt số tiền 50.000 đồng chưa có kết quả thì bị bắt quả tang. Kết quả thua 50.000 đồng, tạm giữ trên người 1.860.000 đồng, trên chiếu bạc 50.000 đồng.
Đặng Văn Đ: Mang theo và sử dụng số tiền 1.700.000 đồng để đánh bạc, tham gia nhiều ván, mỗi ván 100.000 đồng, khi đặt cượt số tiền 100.000 đồng chưa có kết quả thì bị bắt. Kết quả thua 500.000 đồng, tạm giữ trên người 1.100.000 đồng, trên chiếu bạc 100.000 đồng.
Lê Văn H3: Mang theo và sử dụng số tiền 3.000.000 đồng, tham gia nhiều ván, thấp nhất 500.000 đồng, cao nhất 1.000.000 đồng, khi đang chuẩn bị đặt cượt ván tiếp theo thì bị bắt quả tang. Kết quả, thắng số tiền 1.300.000 đồng, tạm giữ trên người số tiền 4.300.000 đồng.
Văn Đình T1: Mang theo số tiền 1.050.000 đồng, sử dụng số tiền 50.000 đồng để đánh bạc. Tham gia đặt cượt nhiều ván, mỗi ván 50.000 đồng, khi đặt cược số tiền 50.000 đồng thì bị bắt quả tang, tạm giữ trên người số tiền 1.000.000 đồng, trên chiếu bạc 50.000 đồng.
Nguyễn Ngọc T6: Mang theo số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, tham gia nhiều ván, mỗi ván đặt cượt số tiền 50.000 đồng, khi đang chuẩn bị đặt cượt ván tiếp theo thì bị bắt quả tang. Kết quả thắng số tiền 150.000 đồng, tạm giữ trên người số tiền 1.150.000 đồng.
Nguyễn Trọng S: Mang theo và sử dụng số tiền 2.100.000 đồng để đánh bạc, tham gia nhiều ván, thấp nhất 100.000 đồng, cao nhất 150.000 đồng, khi đang đặt cượt số tiền 100.000 đồng thì bị bắt quả tang. Kết quả thua 750.000 đồng, tạm giữ trên người số tiền 1.250.000 đồng, trên chiếu bạc 100.000 đồng.
Nguyễn Ngọc D: Mang theo số tiền 380.000 đồng để đánh bạc, tham gia nhiều ván, thấp nhất 50.000 đồng, cao nhất 100.000 đồng, khi đang chuẩn bị đặt cượt ván tiếp theo thì bị bắt quả tang. Kết quả huề vốn, tạm giữ trên người số tiền 380.000 đồng.
Tổng số tiền dùng để đánh bạc (xóc bầu cua) là 29.070.000 đồng, trong đó: Tiền trên chiếu bạc 12.100.000 đồng (Mừng 8.670.000 đồng; P1 400.000 đồng, N1 50.000 đồng, Đ 100.000 đồng, Truyện 100.000 đồng, S 100.000 đồng, T1 50.000 đồng và số tiền còn lại quá trình điều tra không chứng minh được của ai 2.630.000 đồng). Số tiền trên người các bị cáo mang theo sử dụng để đánh bạc 16.970.000 đồng, (Mừng 2.830.000 đồng, T4 600.000 đồng, S 1.250.000 đồng, D 380.000 đồng, T6 1.150.000 đồng, N1 1.860.000 đồng, H3 4.300.000 đồng, Đ 1.100.000 đồng, Truyện 1.000.000 đồng, L1 1.500.000 đồng, T1 1.000.000 đồng).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2024/HSST ngày 23/4/2024 của TAND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Hồ Ngọc P1, Văn Đình T1 phạm tội “Đánh bạc”;
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Ngọc N 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo N 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Hồ Ngọc P1 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ 09 ngày tạm giữ, từ ngày 30/01/2023 đến 08/02/2023). Phạt bổ sung bị cáo P1: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Văn Đình T1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc".
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với 14 bị cáo khác; phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 06/5/2024, các bị cáo Nguyễn Ngọc N, kháng cáo xin được hưởng án treo; bị cáo Hồ Ngọc P1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng hình phạt chính là hình phạt tiền.
- Ngày 08/5/2024, bị cáo Văn Đình T1 kháng cáo xin giảm mức phạt tiền.
Tại phiên toà, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 30/01/2023, Huỳnh Xuân L có hành vi cho sử dụng địa điểm là phòng khách và phòng ngủ, thuộc quyền quản lý của mình để cho các con bạc tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới hình thức đánh bài phỏm (túlêkhơ) được, thua bằng tiền, để thu tiền xâu thì bị bắt quả tang. Cụ thể: Tại sòng đánh bạc dưới hình thức đánh bài phỏm (Túlêkhơ): Nguyễn Ngọc N, Trần Văn C1, Nguyễn Hữu H1 và Hồ Văn H2 tham gia đánh bạc ăn, thua bằng tiền với tổng số tiền 7.860.000 đồng, trong đó: Nguyễn Ngọc N 400.000 đồng, Trần Văn C1 2.800.000 đồng, Nguyễn Hữu H1 3.500.000 đồng, Hồ Văn H2 1.160.000 đồng. Tại sòng đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua: Huỳnh Mừng chuẩn bị dụng cụ đánh bạc, thống nhất cùng với Nguyễn Đức T4 góp tiền làm cái xóc bầu cua ăn thua bằng tiền, chia theo tỉ lệ 9/1 (Mừng 9 phần, Thuận 1 phần) rủ rê các con bạc, tổ chức đánh bạc và trực tiếp làm cái đánh bạc, để cho 10 con bạc tham gia đánh bạc với tổng số tiền 29.070.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Huỳnh Xuân L phạm tội “Gá bạc”; Các bị cáo Huỳnh M1, Nguyễn Đức T4 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”; Các bị cáo Lê Thành T5, Nguyễn Ngọc N, Hồ Ngọc P1, Trần Văn C1, Nguyễn Hữu H1, Nguyễn Trọng S, Lê Văn H3, Nguyễn Văn L1, Đặng Văn Đ, Hồ Văn H2, Huỳnh Xuân N1, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Ngọc D, Văn Đình T1 phạm tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Hồ Ngọc P1, Văn Đình T1 Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình án sơ thẩm đã xem xét nhân thân, đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để xử phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo mà chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo.
[3] Các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Hồ Ngọc P1, Văn Đình T1 kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 BLTTHS; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Hồ Ngọc P1, Văn Đình T1– Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo;
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Hồ Ngọc P1, Văn Đình T1 phạm tội “Đánh bạc”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; Xử phạt:
1.1. Bị cáo Nguyễn Ngọc N - 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; Xử phạt:
1.2. Bị cáo Hồ Ngọc P1 - 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến 08/02/2023.
Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Hồ Ngọc P1 mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự; Xử phạt:
1.3. Bị cáo Văn Đình T1 - 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Hồ Ngọc P1, Văn Đình T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 43/2024/HS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 43/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Ng và đồng phạm
