Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày: 27/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Liên

Ông Nguyễn Văn Bình

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Sơn - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

tham gia phiên tòa: ông Đặng Đức Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Trung D, tên gọi khác: không; sinh ngày: 22/11/1996, tại: H, Quảng Ninh; nơi thường trú: khu phố T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị Q; vợ, con: chưa có; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: ngày 27/11/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”; ngày 25/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 31/7/2024, hiện tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

2. Họ và tên: Lê Quốc D1, tên gọi khác: không; sinh ngày: 07/02/2004, tại: H, Quảng Ninh; nơi thường trú: khu phố H, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Trần Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: ngày 12/7/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 17 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/7/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1968; nơi cư trú: khu phố T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt có lý do.

Người làm chứng: Ngô Hồng Q1;

Người chứng kiến: Hoàng Minh G;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 31/7/2024, tại cổng Trung tâm y tế huyện H thuộc khu phố T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, Lê Quốc D1 có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý, mục đích bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an tỉnh Q phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: Thu trên tay trái D1 01 túi nilon bên trong có 03 túi nilon nhỏ chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý; thu tại túi quần bên phải của D1 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone. D1 khai số ma túy trên do D1 mua của Nguyễn Trung D ở khu phố T, thị trấn Q, huyện H để bán kiếm lời.

Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Trung D. Khám xét khẩn cấp nơi ở của D thu giữ: 01 túi nilon chứa 04 viên nén màu xanh, nghi là ma tuý; 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý; 01 hộp nhựa kích thước (09 x 06 x 03)cm; 352 vỏ túi nilon rỗng; 01 cân điện tử màu xanh; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Trung D; 02 thẻ ngân hàng và 25.000.000 đồng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Quốc D1 Cơ quan điều tra không thu giữ vật chứng gì.

Quá trình điều tra làm rõ: khoảng tháng 4/2024, Nguyễn Trung D nảy sinh ý định mua ma tuý về bán kiếm lời. Thời gian sau đó D gặp người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại một quán hát ở thành phố M; biết T1 bán ma tuý, D đã thoả thuận mua của T1 30 gam ma tuý Ketamine và 04 viên ma tuý thuốc lắc với giá 22.200.000 đồng. Thoả thuận xong, D đưa cho T1 22.200.000 đồng tiền mặt, T1 nhận tiền rồi rời đi. Khoảng 30 phút sau T1 quay lại quán hát đưa cho D 01 vỏ hộp thuốc, D mang về nhà kiểm tra thì thấy bên trong có 01 túi nilon chứa 04 viên thuốc lắc và 01 túi nilon chứa Ketamine. D chia Ketamine ra các túi nilon nhỏ sau đó cất giấu Ketamine và thuốc lắc để sử dụng và bán cho Lê Quốc D1 kiếm lời. Mua được ma tuý, D1 sử dụng và bán cho người khác kiếm lời, cụ thể:

Buổi tối ngày 29/7/2024, D1 đang ngồi ở quán nước thuộc thị trấn Q thì Ngô Hồng Q1 (sinh năm 1999, trú tại thôn H, xã Q, huyện H) gọi điện thoại cho D1 hỏi mua 01 túi ma tuý Ketamine, D1 đồng ý bán và báo giá 2.000.000 đồng, sau đó Q1 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của D1. Sau khi nhận được tiền của Q1 chuyển khoản, D1 gọi điện thoại cho D hỏi mua 01 túi ma tuý Ketamine, D đồng ý bán và báo giá 1.200.000 đồng, sau đó D1 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của D. Nhận được tiền của D1 chuyển khoản, D cầm 01 túi ma tuý Ketamine rồi một mình mang đến cất giấu tại khu vực cổng trường Trung học cơ sở (THCS) thị trấn Q thuộc khu phố L, thị trấn Q, huyện H rồi gọi điện thoại cho D1 đến lấy. Theo chỉ dẫn của D, D1 lấy được túi Ketamine, sau đó mang đến cổng trường Trung học phổ thông N thuộc khu phố N, thị trấn Q đưa cho Q1. Mua được ma tuý, Q1 mang về nhà sử dụng hết.

Rạng sáng ngày 30/7/2024, D1 gọi điện thoại cho D hỏi mua 02 túi ma tuý Ketamine, D đồng ý bán và báo giá 2.400.000 đồng (1.200.000 đồng/ 01 túi), sau đó D1 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của D. Nhận được tiền của D1 chuyển khoản, D cầm 02 túi ma tuý Ketamine rồi đem đến trường THCS thị trấn Q giấu ở khu vực cổng trường và gọi điện thoại bảo D1 đến lấy. Theo chỉ dẫn của D, D1 lấy được 02 túi Ketamine, sau đó mang về nhà sử dụng hết số ma tuý này.

Khoảng 20 giờ ngày 30/7/2024, D1 gọi điện thoại cho D hỏi mua 03 túi ma tuý Ketamine, D đồng ý bán và báo giá 3.600.000 đồng (1.200.000 đồng/ 01 túi), sau đó D1 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của D. Nhận được tiền D1 chuyển khoản, đến khoảng 00 giờ ngày 31/7/2024, D cầm 03 túi Ketamine cất giấu ở khu vực cổng trường THCS thị trấn Q rồi gọi điện thoại bảo D1 đến lấy. Theo chỉ dẫn của D, D1 lấy được 03 túi Ketamine sau đó giấu ở trong người rồi đi đến khu vực cổng Trung tâm y tế huyện H tìm người có nhu cầu mua để bán, nhưng chưa kịp bán, thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại các Kết luận giám định số 1196/KL-KTHS, 1197/KL-KTHS cùng ngày 05/8/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q kết luận:

  • Các mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Quốc D1 ký hiệu từ M1 đến M4 là ma tuý; Loại: Ketamine; Có tổng khối lượng 1,908 gam; M3 dạng vết không xác định được khối lượng.
  • 04 viên nén màu xanh thu giữ của Nguyễn Trung D ký hiệu từ M1 đến M4 là ma tuý; Loại: MDMA; tổng khối lượng 2,008 gam. Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Trung D ký hiệu M5 là ma tuý; Loại: Ketamine; Có khối lượng 1,037 gam.

Bản Cáo trạng số 1136/CT-VKSHH ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà truy tố bị cáo Nguyễn Trung D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Quốc D1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Trung D và Lê Quốc D1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Nguyễn Trung D khai: nguồn gốc ma túy D bán cho D1 03 lần vào từ ngày 29/7/2024 đến 31/7/2024 là do D mua của người tên T1 tại một quán hát ở thành phố M (không rõ lai lịch, địa chỉ) từ tháng 4 năm 2024. Các bị cáo xác định điều luật, khung hình phạt mà Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Q có ý kiến như sau: số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) cơ quan điều tra thu giữ tại phòng ở của Nguyễn Trung D vào ngày 31/7/2024 là của chị đưa cho D nhờ D chuyển tiền cho con gái chị đang điều trị bệnh. Nay chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại số tiền trên cho chị.

Người chứng kiến Hoàng Minh G vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện: khoảng 01 giờ 10 phút ngày 31/7/2024 anh được lực lượng công an mời chứng kiến việc kiểm tra 01 nam thanh niên. Người đó khai tên Lê Quốc D1, sinh năm 2004; trú tại: khu H, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Anh thấy cơ quan công an phát hiện, thu giữ:

  • Trên tay trái D1 đang cầm 01 túi nilon một đầu có khóa kẹp, bên trong đựng 03 túi nilon cùng loại (02 túi chứa chất tinh thể màu trắng, còn 01 túi bên trong có dính chất tinh thể màu trắng);
  • Tại túi quần bên phải D1 đang mặc có 01 túi nilon một đầu có khóa kẹp nhựa viền xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.

D1 khai nhận đây là ma tuý Ketamine D2 mua với mục đích bán lại để kiếm lời. Công an đã yêu cầu tất cả mọi người về trụ sở lập biên bản,

L khai của người làm chứng Ngô Hồng Q1 có trong hồ sơ xác định: đêm ngày 29/7/2024 anh đã đặt mua ma tuý Ketamine của Lê Quốc D1 với mục đích sử dụng. Anh đã chuyển khoản đủ 2.000.000đ từ số tài khoản ngân hàng V mang tên Ngô Hồng Q1 sang số tài khoản 9992283866666 ngân hàng M cho D1. Chuyển tiền xong, 30 phút sau anh đi đến khu vực cổng trường N, thị trấn Q, huyện H thì D1 đưa cho anh 01 túi nilon trong có chứa ma túy Ketamine. Mua được ma túy của D1 anh đã đem về nhà tại thôn H, xã Q, H sử dụng hết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Quốc D1 từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

  • Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1196/KL-KTHS và 1197/KL-KTHS cùng ngày 05/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 cân điện tử; 01 túi nilon bên trong có 250 vỏ túi nilon; 01 túi nilon bên trong có chứa 100 vỏ túi nilon; 01 hộp nhựa hình chữ nhật; 02 sim điện thoại: số 0357.382.xxx và 0352.921.102 không còn giá trị sử dụng;
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen thu của bị cáo D1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím thu của bị cáo D.
  • Truy thu số tiền: 800.000đ của bị cáo D1; 7.200.000đ của bị cáo D có được do bán ma tuý;
  • Trả lại cho bị cáo D 01 căn cước công dân số [...] và 02 thẻ ngân hàng;
  • Trả lại cho chị Nguyễn Thị Q số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng)

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai và có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 31/7/2024, tại khu phố T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Lê Quốc D1 có hành vi cất giấu trái phép 1,908 gam ma tuý, loại Ketamine để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang.

Trong khoảng thời gian từ ngày 29/7/2024 đến ngày 31/7/2024, tại thị trấn Q, huyện H, Nguyễn Trung D 03 lần bán ma túy cho Lê Quốc D1; Lê Quốc D1 01 lần bán ma tuý cho Ngô Hồng Q1 để kiếm lời, cụ thể:

  • Ngày 29/7/2024, D bán cho D1 01 túi ma tuý, loại Ketamine, với giá 1.200.000 đồng. Sau đó, D1 đã bán cho Ngô Hồng Q1 01 túi ma túy, với giá 2.000.000 đồng.
  • Vào các ngày 30 và 31/7/2024, D bán cho D1 02 túi ma túy, loại Ketamine, với giá 2.400.000 đồng và 03 túi ma túy, loại Ketamine, với giá 3.600.000 đồng. Ngoài ra, D còn cất giấu 2,008 gam ma tuý, loại MDMA và 1,037 gam ma tuý, loại Ketamine để bán kiếm lời.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Trung D đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Quốc D1 phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đã truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, nó không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà nó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, làm mất trật tự trị an trong xã hội, do đó Nhà nước đã độc quyền quản lý các chất ma túy với những quy định rất nghiêm ngặt, mọi hành vi trái phép liên quan đến ma túy đều bị pháp luật trừng trị. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của việc mua bán, sử dụng ma túy, nhưng vì lối sống buông thả và nhu cầu cá nhân nên các bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội: mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lợi. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo D 03 lần bán ma tuý cho bị cáo D1; Bị cáo D1 01 lần bán ma túy cho Ngô Hồng Q1. Các bị cáo trong vụ án này phạm tội độc lập phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của cá nhân mình.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng: không có; bị cáo Nguyễn Trung D và Lê Quốc D1 có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội tàng trữ, mua bán ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử sẽ xem xét trước khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra tại phiên tòa, các bị cáo D và D1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Số ma tuý được hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 cân điện tử, 01 túi nilon bên trong có 250 vỏ túi nilon, 01 túi nilon bên trong có chứa 100 vỏ túi nilon, 01 hộp nhựa hình chữ nhật, 02 sim điện thoại, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen thu của bị cáo D1; 01 chiếc Iphone màu đen thu của bị cáo D là phương tiện các bị cáo dùng liên lạc mua bán ma tuý, nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước;

Số tiền: 800.000đ của bị cáo D1, 7.200.000đ của bị cáo D có được từ việc bán ma tuý nên cần buộc các bị cáo nộp lại sung ngân sách nhà nước;

01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Trung D và 02 thẻ ngân hàng là tài sản riêng của bị cáo nên trả lại cho bị cáo D;

Số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) thu giữ tại phòng của Nguyễn Trung D. Qua xác minh đây là tiền của chị Nguyễn Thị Q đưa cho D nhờ D chuyển gửi cho con gái chị. Xét thấy số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị Q.

[7] Trong vụ án này có người đàn ông tên T1 bán ma túy cho D, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ; Ngô Hồng Q1 mua ma túy của D1 đã sử dụng hết, không thu giữ được ma tuý nên không có căn cứ xử lý. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Nguyễn Trung D và Lê Quốc D1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.

2/Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Quốc D1 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.

3/Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1196/KL-KTHS và 1197/KL-KTHS cùng ngày 05/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 cân điện tử; 01 túi nilon bên trong có 250 vỏ túi nilon; 01 túi nilon bên trong có chứa 100 vỏ túi nilon; 01 hộp nhựa hình chữ nhật; 02 sim điện thoại: số 0357.382.xxx và 0352.921.102;
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen thu của bị cáo D1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím thu của bị cáo D.
  • Truy thu 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) của bị cáo Lê Quốc D1; truy thu 7.200.000đ (bảy triệu hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Trung D nộp ngân sách Nhà nước;
  • Trả lại cho bị cáo D 01 căn cước công dân số [...] và 02 thẻ ngân hàng;
  • Trả cho chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1968; nơi cư trú: khu phố T, thị trấn Q, huyện H, Quảng Ninh số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng)

Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 09/2024/THA ngày 22/11/2024 và biên lai thu tiền số 0004502.

4/ Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Nguyễn Trung D và Lê Quốc D1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND huyện Hải Hà;
  • - HSNV CA huyện Hải Hà;
  • - CCTHADS huyện Hải Hà;
  • - CQTHAHS, CQĐT CA huyện Hải Hà
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh.
  • - Các bị cáo; người có qlnv liên quan
  • - THA, Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 01 giờ ngày 31/7/2024, tại khu phố T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Lê Quốc D1 có hành vi cất giấu trái phép 1,908 gam ma tuý, loại Ketamine để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang. Trong khoảng thời gian từ ngày 29/7/2024 đến ngày 31/7/2024, tại thị trấn Q, huyện H, Nguyễn Trung D 03 lần bán ma túy cho Lê Quốc D1; Lê Quốc D1 01 lần bán ma tuý cho Ngô Hồng Q1 để kiếm lời, cụ thể: - Ngày 29/7/2024, D bán cho D1 01 túi ma tuý, loại Ketamine, với giá 1.200.000 đồng. Sau đó, D1 đã bán cho Ngô Hồng Q1 01 túi ma túy, với giá 2.000.000 đồng. - Vào các ngày 30 và 31/7/2024, D bán cho D1 02 túi ma túy, loại Ketamine, với giá 2.400.000 đồng và 03 túi ma túy, loại Ketamine, với giá 3.600.000 đồng. Ngoài ra, D còn cất giấu 2,008 gam ma tuý, loại MDMA và 1,037 gam ma tuý, loại Ketamine để bán kiếm lời.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger