TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HS-ST
Ngày: 25- 7- 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nông Khắc Huy, Bí thư huyện Đoàn Đồng Hỷ.
- Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Giáo viên nghỉ hưu.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái– Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Ngô Lê Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 24/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 05/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Mạnh C, tên gọi khác: Không ; sinh ngày 29/9/1989; Nơi sinh: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: TDP E, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1966, con bà: Thái Thị H, sinh năm 1967; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ là: Nghiêm Thùy D, sinh năm 1996, có 01 con chung sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Ninh Minh Đ, tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/12/2000; Nơi sinh: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Ninh Văn Q, sinh năm 1977, con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Không có; Tiền án: có 01, tại bản án số 38/2023/HSST ngày 17/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”; Tiền sự:
Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn H1, tên gọi khác: Không ; sinh ngày 17/11/1981; Nơi sinh: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1954, con bà: Trần Thị D1, sinh năm 1960; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Có vợ là: Nông Thị N1, sinh năm 1982, có 02 con chung, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tại bản án số 46/2008/HSST ngày 21/5/2008 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Chống người thi hành công vụ”, tại bản án số 04/2017/HSST ngày 12/01/2017 Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Dương Thị H3, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20/6/1995; Nơi sinh: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT: xóm Đ, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở hiện tại: xóm L, xã Q, huyện Đ, toinhr T; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Dương Văn H4, sinh năm 1956, con bà: Diệm Thị S, sinh năm 1961; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có chồng là: Đoàn Đình T, sinh năm 1989, có 02 con chung, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Nguyễn Trường M, tên gọi khác: Không; sinh ngày 08/02/1999; Nơi sinh: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở hiện tại: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1969, con bà: Nguyễn Thị H5, sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Nguyễn Thanh H6, tên gọi khác: Không; sinh ngày 24/8/2006 (Khi phạm tội 17 tuổi, 04 tháng, 28 ngày); Nơi sinh: Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký HKTT: xóm L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1976, con bà: Vũ Thị H7, sinh năm 1982; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Chồng, con: Không có; Tiền
án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Thanh H6: Bà Vũ Thị H8 (Mẹ đẻ của bị cáo), sinh năm 1982- Có mặt
Nơi cư trú: Xóm L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh H6: Bà Lê Thúy H9, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T- Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Hoàng Minh H10, sinh năm 1974 – Vắng mặt
- Chị Đào Thị V, sinh năm 1983 – Vắng mặt
Cùng nơi cư trú: Xóm L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Chị Nguyễn Minh T2, sinh năm 1994 – Vắng mặt
Nơi ĐKHKTT: TDP P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
Nơi ở hiện tại: Xóm L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Anh Ninh Văn Q, sinh năm 1977 – Có mặt
Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1982 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm A, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người chứng kiến: Anh Bùi Minh T3, sinh năm 1993 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm M, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 40 phút, ngày 22/01/2024, Nguyễn Mạnh C cùng Ninh Minh Đ đang ăn tất niên ở xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì Nguyễn Trung K, sinh năm 1982, trú tại xóm A, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên gọi điện thoại cho C, nhờ C mua 04 viên thuốc lắc, C đồng ý. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Đ1 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA – INOVA, BKS: 20A – 202.15 chở C đi về. Trên đường đi, C nói với Đ1 gọi điện cho Nguyễn Thanh H6 (Là bạn xã hội quen biết từ trước với Đ1) để mua ma tuý, Đ1 không gọi mà đưa điện thoại của Đ1 cho C gọi, C dùng điện thoại của Đ1 gọi điện cho H6 đặt và hỏi mua 01 túi Ketamine giá 1.700.000 đồng, 07 viên thuốc lắc với giá 350.000 đồng một viên, tổng số tiền là 4.150.000 đồng, C nói H6 mang đến khu dân cư H, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. H6 nhắn tin với nội dung tổng số tiền là 4.400.000 đồng (trong đó có 250.000 đồng tiền ship) và gửi số tài khoản của H6 mở tại
ngân hàng để C chuyển tiền mua ma tuý. C trả điện thoại cho Đ1 và nói chuyển tiền cho H6, Đ1 dùng tài khoản ngân hàng M2 có số tài khoản là 078064908 chuyển số tiền 4.400.000 vào tài khoản của H6. C nói với Đ1 lái xe đến khu dân cư H chờ H6. C dùng điện thoại liên lạc với Nguyễn Văn H1 rủ đi sử dụng ma túy tại quán K2 thì H1 đồng ý. C tiếp tục gọi điện cho K và nói 04 viên thuốc lắc có giá 2.000.000đ và bảo K chuyển tiền rồi đến khu dân cư H để lấy ma túy, K đồng ý. K dùng tài khoản ngân hàng của K số tài khoản 0973264188 mở tại ngân hàng M2 chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của C 0865352699 mở tại ngân hàng M2, sau đó lấy xe mô tô đi đến khu dân cư H để lấy ma tuý. Đoàn lái xe đến khu dân cư Hồng T4 đứng lại chờ, một lúc sau K đến, K lên xe ngồi cùng C và Đ1.
Sau khi nhận được tiền do Đ1 chuyển, H6 gọi điện thoại cho Nguyễn Trường M nói có khách mua ma túy (Theo số lượng C nói với H6) bảo M mang đến chỗ H6 để cùng mang bán cho khách, H6 và M thoả thuận, tiền lãi từ việc bán ma tuý sẽ chia đôi, M đi lên khu vực đê N thuộc phường Q, thành phố T mua được 01 túi ma tuý Ketamine và 07 viên ma tuý thuốc lắc hết tổng số tiền là 2.750.000 đồng của một người phụ nữ, M không biết tên tuổi, lai lịch. Sau khi mua được ma tuý, M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Vision, BKS: 20C1 – 388.00 đến đón H6 ở ngã ba Đ thuộc phường T, thành phố T, sau đó chở H6 đến khu dân cư H để H6 giao ma tuý cho nhóm người C và Đ1. Khoảng 13 giờ, M và H6 đến nơi, M đưa số ma tuý cho H6, H6 đi đến chỗ xe Đoàn đang đỗ và đưa túi ma tuý cho Đ1, rồi cùng M đi về (sau đó H6 đã chuyển cho M số tiền 3.600.000 đồng). Đoàn đưa túi ma tuý cho C, C mở ra thấy bên trong có một túi Ketamine và 07 viên ma tuý thuốc lắc, C lấy 4 viên ma tuý thuốc lắc đưa cho K, K cất 4 viên ma tuý vào túi áo rồi đi về (số ma tuý đó K không sử dụng mà đã vứt xuống cầu L).
Sau khi đưa ma túy cho K, C và Đ1 lái xe đi đến quán K2 địa chỉ tại xóm L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, C mang theo 03 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy loại Ketamine. Khoảng hơn 13 giờ, Đ1 và C đến nơi và ngồi chờ khoảng 5 phút thì Nguyễn Văn H1 đến. Nhóm của C thuê phòng hát và 02 nhân viên. Hoàng Minh H10, sinh năm 1974 và Đào Thị V, sinh năm 1983, cùng trú tại xóm L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là chủ quán K1 đồng ý và dẫn nhóm C vào phòng hát số 6, rồi yêu cầu Dương Thị H3 và Nguyễn Minh T2 là nhân viên của quán vào phòng số 6 phục vụ. Trước khi vào phòng hát nhóm C, H1 và Đ1 thống nhất sau khi sử dụng ma tuý xong thì tiền mua ma tuý, tiền thuê phong hát, tiền nhân viên phục vụ sẽ chia đều cho mỗi người. Tại phòng hát số F, C lấy túi ma tuý ra để trên mặt bàn, H1 lấy 1 viên thuốc lắc chia làm hai phần, C và H1 mỗi người sử dụng hết 1 phần. Đoàn cầm một viên thuốc lắc sử dụng một phần, phần còn lại để trên bàn thì H3 lấy sử dụng bằng hình thức uống. Sau đó C bảo H3 ra ngoài lấy đĩa sứ để sử dụng Ketamine, H3 đi ra ngoài vào phòng chứa đồ lấy 01 chiếc đĩa sứ mầu trắng và lấy từ trong ốp điện thoại của H3 ra 01 chiếc thẻ ngân hàng B2 màu xanh vào đưa cho C làm dụng cụ “xào ke”, H1 đổ số Ketamine ra đĩa, C dùng thẻ nhựa mầu xanh đảo, trộn số Ketamine và chia làm nhiều đường kẻ nhỏ (đường ke), H1 đưa cho H3 01 tờ tiền mệnh giá 10.000
đồng, H3 cuốn tờ tiền thành ống tròn sau đó lấy vỏ của đầu lọc thuốc lá để cố định ống rồi đặt lên đĩa, sau đó C, H1, Đ1 và H3 cùng sử dụng ma tuý Ketamine và hát, T2 không sử dụng ma tuý.
Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, Đ1 gọi điện cho H6 đặt mua 02 túi Ketamine và 06 viên ma tuý tổng hợp “thuốc lắc” với giá 5.700.000 đồng, và hẹn H6 mang đến quán K2 giao dịch, H6 đồng ý. Sau đó, Đ1 chuyển khoản cho H6 số tiền 1.000.000 đồng đặt cọc trước. Các đối tượng C, Đ1, H1 và H3 sử dụng ma tuý đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác Công an tỉnh T bắt quả tang và thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng trên mặt bàn, trên đĩa có bám dính chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000đ được cuộn thành dạng ống và 01 thẻ ngân hành B2 màu xanh phát hiện thu giữ trên mặt đĩa sứ màu trắng (Tất cả được niêm phong ký hiệu Q1); 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 viên nén màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp “thuốc lắc” phát hiện thu giữ trên mặt bàn phòng 6 (Được niêm phong ký hiệu Q2), cùng các vật chứng khác liên quan, tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Ninh M1 Đoàn 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INOVA, BKS: 20A – 20215; 01 giấy đăng ký xe ô tô của xe (Bản sao); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 1976643.
Sau khi nhận được tiền đặt cọc mua ma tuý của Đoàn lần thứ hai, H6 liên hệ với M nói Đ1 đặt mua 02 túi Ketamine và 6 viên thuộc lắc, M bảo H6 chờ, M đi đến địa điểm cũ mua 02 túi ma tuý Ketamine 06 viên ma tuý thuốc lắc (để trong 03 túi ni lon mầu trắng mỗi túi 02 viên) với giá 3.500.000₫ toàn bộ số ma tuý trên được cất trong vỏ bao thuốc lá T. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, M mượn chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe VIOS, BKS 30A – 586.67 của một người tên M (không xác định lai lịch) ở cửa hàng A đường G đi đón H6, rồi cùng H6 đến quán K2 để bán ma tuý cho Đ1. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, M và H6 đến nơi nhưng chưa kịp bán cho nhóm của Đ1 thì bị tổ công tác Công an tỉnh T bắt quả tang và thu giữ: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 02 túi nilon màu trắng đều chứa chất tinh thể màu trắng (H6 khai là ma tuý loại Ketamine và ma tuý thuốc lắc); 01 điện thoại di động nhãn hiệu IHONE đã qua sử dụng, được gắn thẻ sim có số thuê bao 0389.977.355 thu giữ trên người H6 cùng các vật chứng khác liên quan. Ngoài ra thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, vỏ màu đen, BKS 30A – 586.67 là phương tiện M sử dụng; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DA5903280 cấp ngày 25/9/2023 và 01 bản sao chứng nhận đăng ký xe ô tô số 169274 cấp ngày 02/4/20215 trong xe.
Tiến hành mở niêm phong ký hiệu Q2, bên trong có 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 viên nén màu trắng. Cân viên nén màu trắng có khối lượng là 0,45 gam và lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong, kí hiệu G để gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 303/KL-KTHS, ngày 31/01/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: Tìm thấy chất ma tuý bám dính trên 01 đĩa sứ mà trắng; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000đ được cuộn thành ống; 01 thẻ ngân hang BIDV màu xanh trong niêm phong ký hiệu Q1 gửi giám định: Loại Ketamine; Mẫu viên nén màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,45 gam.
Tiến hành mở niêm phong ký hiệu H1, bên trong có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 02 túi nilon màu trắng đều chứa chất tinh thể màu trắng và 03 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi chứa 02 viên nén màu trắng. Cân số chất tinh thể màu trắng có khối lượng là 1,890 gam, lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong, kí hiệu G1 làm mẫu gửi giám định. Cân 06 viên nén màu trắng có khối lượng 2,620 gam, lấy 02 viên nén màu trắng có khối lượng 0,910 gam niêm phong ký hiệu G2 làm mẫu gửi giám định. Còn lại 04 viên nén màu trắng có khối lượng: 1,710 gam niêm phong ký hiệu L2 để lưu kho. Tại Bản kết luận giám định số 304/KL-KTHS, ngày 31/01/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Ketamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là: 1,890 gam; Các viên nén màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu G2 gửi giám định là chất ma tuý, loại MDMA có khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,910 gam.
Tiến hành thu mẫu nước tiểu của các đối tượng C, H1, Đ1, T2 và H3 để xét nghiệm ma tuý. Kết quả: Thuý: Âm tính; Đoàn: Dương tính MDMA, Methamphetamine; H1: Dương tính MDMA, Methamphetamine; C: Dương tính MDMA, Methamphetamine; Hoa: Dương tính MDMA, Methamphetamine, Ketamine.
Vật chứng của vụ án gồm:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, được lắp thẻ SIM có số thuê bao là: 0974.219.888; 01 CCCD số [...] mang tên Đào Thị V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, được lắp một thẻ SIM có số thuê bao là: 0972.991.668; 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 17F8004870, tên chủ hộ kinh doanh: Hoàng Minh H10 do phòng Tài chính – Kế hoạch UBND huyện Đ cấp; 03 quyển số ghi chép của quán; 01 bảng nhựa có in mã QR số tài khoản ngân hàng của Đào Thị V; 01 caser máy tính; 01 màn hình máy tính; 01 máy in hoá đơn thanh toán; 01 CCCD số [...] mang tên Hoàng Minh H10; số tiền 20.000.000 đồng tiền Ngân hàng N3; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INOVA gắn BKS: 20A – 202.15. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
- - 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu V, bên trong có vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Q1, bên trong có 01 đĩa sứ mầu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 thẻ nhựa mầu xanh; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G, bên trong có 0,320 gam MDMA và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn H1; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ1, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ2, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ3, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ4, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ7, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu L2, bên trong có 1,710 gam MDMA; 01 bì niêm phong theo
- quy định ký hiệu V1, bên trong có vỏ bao thuốc lá và bì niêm phong cũ; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G1, bên trong có 1,7333 gam Ketamine và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 CCCD số [...] mang tên Nguyễn Trường M; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Trường M; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu H3, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G2, bên trong có 0,802 gam MDMA và vỏ bao gói còn lại sau giá định; 01 bì niêm phong ký hiệu ĐT bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, mầu sơn Đen, gắn BKS: 30A – 586.67; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: DA5903280. Hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKSĐH, ngày 24/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố: Nguyễn Thanh H6, Nguyễn Trường M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Nguyễn Mạnh C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn H1, Ninh Minh Đ và Dương Thị H3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H6 và Nguyễn Trường M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Bị cáo Nguyễn Văn H1, Ninh Minh Đ và Dương Thị H3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường M từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 07 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H6 từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 02 đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai
tội là từ 09 đến 11 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 07 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Ninh Minh Đ từ 07 đến 08 năm tù. Chuyển 24 tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 38/2023/HS-ST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thành tù giam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 09 đến 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H1 từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Dương Thị H3 từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu V, bên trong có vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Q1, bên trong có 01 đĩa sứ mầu trắng, 01 thẻ nhựa mầu xanh; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G, bên trong có 0,320 gam MDMA và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu L2, bên trong có 1,710 gam MDMA; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu V1, bên trong có vỏ bao thuốc lá và bì niêm phong cũ; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G1, bên trong có 1,7333 gam Ketamine và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G2, bên trong có 0,802 gam MDMA và vỏ bao gói còn lại sau giá định; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: DA5903280.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ1, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ2, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ7, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu H3, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong ký hiệu ĐT bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, mầu sơn Đen, gắn BKS: 30A – 586.67.
- Trả lại:
- Nguyễn Văn H1 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn H1; Nguyễn Minh T2 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ3, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; Dương Thị H3 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ4, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn
- hiệu IPHONE; Nguyễn Trường M 01 CCCD số [...] mang tên Nguyễn Trường M và 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Trường M.
- - Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.800.000đ đối với bị cáo Nguyễn Thanh H6; số tiền 3.600.000đ đối với bị cáo Nguyễn Trường M; số tiền 2.000.000đ đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C do mua bán ma túy mà có.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh H6:
Nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, việc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là hoàn toàn chính xác. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhân thân tốt, tuổi đời còn trẻ, phạm tội khi đang tuổi vị thành niên, thiếu hiểu biết pháp luật nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân tốt.
Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến bổ sung gì thêm.
Trong phần tranh luận các bị cáo; người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh H6; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng các bị cáo xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh:
Khoảng 11 giờ ngày 22/01/2024, tại khu dân cư H, thuộc tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Đ, Nguyễn Thanh H6 và Nguyễn Trường M đã bán cho Nguyễn Mạnh C và Ninh M1 Đoàn 07 viên thuốc lắc (Ma túy loại MDMA) và 01 gói ma túy loại Ketamine với giá 4.400.000đ, sau đó C đưa 04 viên thuốc lắc cho Nguyễn Trung K. Số ma túy còn lại C và Đ1 đem đến cơ sở kinh doanh Karaoke T tại xóm L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên khoảng 13 giờ cùng ngày rủ thêm Nguyễn Văn H1 để cùng sử dụng. Tại cơ sở kinh doanh Karaoke Thanh Vân C1, Đ1 và H1 thuê phòng hát số 6 và 02 nhân viên: Dương Thị H3 và Nguyễn Minh T2 để tổ chức sử dụng ma túy. C1 lấy ma túy loại Ketamine và 03 viên ma túy tổng hợp bỏ ra để trên bàn cho các đối tượng sử dụng. H1, C1, Đ1 và H3 mỗi người sử dụng hết ½ viên thuốc lắc. Sau đó C1 bảo H3 ra ngoài lấy đĩa sứ để sử dụng Ketamine, H3 đi lấy 01 chiếc đĩa sứ mầu trắng và lấy từ trong ốp điện thoại của H3 ra 01 chiếc thẻ ngân hàng B2 màu xanh vào đưa cho
C1 làm dụng cụ “xào ke”, C1 đổ số Ketamine ra đĩa rồi dùng thẻ nhựa mầu xanh đảo, trộn số Ketamine và chia làm nhiều đường kẻ nhỏ (đường ke), H1 đưa cho H3 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, H3 cuốn tờ tiền thành ống tròn sau đó lấy vỏ của đầu lọc thuốc lá để cố định ống sau đó đặt lên đĩa. C1, H1, Đ1 và H3 cùng sử dụng ma tuý Ketamine và hát. T2 không sử dụng ma túy. Đến 15 giờ 50 phút cùng ngày, Đ1 tiếp tục gọi điện cho H6 đặt mua 02 túi Ketamine và 06 viên thuốc lắc với 5.700.000đ, H6 đồng ý. Các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác Công an tỉnh T bắt quả tang thu giữ các vật chứng có liên quan. Khoảng 19 giờ cùng ngày, M và H6 tiếp tục mang ma túy đến để bán cho nhóm của Đ1 thì bị tổ công tác Công an tỉnh T bắt quả tang thu giữ các vật chứng có liên quan.
Về nguồn gốc số ma túy M và H6 bán cho C1 và Đ1 là do M mua của một người phụ nữ không biết tên tuổi, lai lịch tại khu vực đê N thuộc phường Q, thành phố T vào trưa và chiều ngày 22/01/2024.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; sơ đồ hiện trường; lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; vật chứng đã thu giữ; bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thanh H6, Nguyễn Trường M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Nguyễn Mạnh C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn H1, Ninh Minh Đ và Dương Thị H3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a).....;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,....”
Nội dung Điều 255 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
α)......;
b) Đối với 02 người trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,.....”.
[2]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án. Hội đồng xét xử thấy:
Trong vụ án này các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có người tổ chức, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể, các bị cáo tiếp nhận ý chí của nhau và cùng thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” bị cáo Nguyễn Mạnh C là người khởi xướng, rủ rê nên bị cáo C tham gia vụ án với vai trò tích cực hơn các bị cáo khác.
[3]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Các bị cáo Nguyễn Trường M, Nguyễn Thanh H6, Nguyễn Mạnh C, Dương Thị H3 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Mạnh C có ông ngoại là Thái Hữu T5 được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo Nguyễn Trường M trong quá trình học tập năm lớp 12 đã được tặng Giấy khen và đã tham gia tích cực vào hoạt động hiến máu nhân đạo được cấp giấy chứng nhận nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn H1, Ninh Minh Đ có nhân thân xấu nhưng trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Trường M, Nguyễn Thanh H6, Nguyễn Mạnh C, Dương Thị H3 và Nguyễn Văn H1 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Ninh Minh Đ có 01 tiền án, phạm tội khi đang chấp hành thời gian thử thách của án treo nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
4]. Về hình phạt:
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để quyết định hình phạt.
Đối với bị cáo Nguyễn Trường M, Nguyễn Thanh H6, Nguyễn Mạnh C, Dương Thị H3 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo M trước khi phạm tội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và tham gia tích vào các hoạt động nhân đạo (Hiến máu tình nguyện); bị cáo H6 thực hiện hành vi phạm tội trong độ tuổi vị thành niên nên khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù buộc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn H1 và Ninh Minh Đ có nhân thân xấu, bị cáo Đ2 có 01 tiền án, thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách, do đó cần áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự chuyển hình phạt tù cho hưởng án treo tại Bản án số 38/2023/HS-ST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thành tù giam và áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt với bản án này, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. Tuy nhiên khi lượng hình cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo Nguyễn Trường M, Nguyễn Mạnh C mua bán ma túy mục đích để kiếm lời, nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Nguyễn Thanh H6 mua bán ma túy mục đích để kiếm lời, tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong độ tuổi vị thành niên nên căn cứ khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Văn H1, Ninh Minh Đ, Dương Thị H3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không có mục đích kiếm lời, mặt khác các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[6]. Vật chứng của vụ án:
Đối với 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu V, bên trong có vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Q1, bên trong có 01 đĩa sứ mầu trắng, 01 thẻ nhựa mầu xanh; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G, bên trong có 0,320 gam MDMA và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu L2, bên trong có 1,710 gam MDMA; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu V1, bên trong có vỏ bao thuốc lá và bì niêm phong cũ; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G1, bên trong có 1,7333 gam Ketamine và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G2, bên trong có 0,802 gam MDMA và vỏ bao gói còn lại sau giá định; đây là những vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị hoặc giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 giấy chứng nhận kiểm định số: DA5903280 thu giữ theo xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, mầu sơn Đen, gắn BKS: 30A – 586.67, đây là giấy tờ liên quan đến quản lý phương tiện có thời hạn sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ1, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ2, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ7, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu H3, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE; 01 bì niêm phong ký hiệu ĐT bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE. Đây là những công cụ, phương tiện các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, mầu sơn Đen, gắn BKS: 30A – 586.67 đăng ký chủ sở hữu mang tên anh Phạm Bá Đ3, nơi cư trú: Khu phố A, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội do Công an thành phố H cấp năm 2015, tuy nhiên sau đó chiếc xe ô tô trên đã được anh Đ3 bán cho một người khác vào năm 2016, hiện tại anh Đ3 xác định không còn liên quan gì đến chiếc xe ô tô trên. Ngày 22/01/2024 bị cáo M khai đã mượn chiếc xe ô tô này của một người tên là M (không xác định được lai lịch) ở cửa hàng A đường G để đi bán ma túy. Qúa trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh không tìm được người tên M như bị cáo M khai, đồng thời tra cứu thì chiếc xe ô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng, do đó xác định đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn H1; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Trường M và 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Trường M, đây là những giấy tờ tùy thân của các bị cáo nên trả lại cho các bị cáo quản lý sử dụng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE thu giữ của Nguyễn Minh T2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE thu giữ của Dương Thị H3, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội và tội phạm nên trả lại cho chị T2 và bị cáo H3 là chủ sở hữu hợp pháp quản lý sử dụng.
Đối với số tiền 1.800.000đ mà Nguyễn Thanh H6 có được và số tiền 3.600.000đ mà Nguyễn Trường M có được do bán ma túy cho C và Đ2; số tiền 2.000.000đ mà Nguyễn Mạnh C có được do bán ma túy K mà có, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, được lắp thẻ SIM có số thuê bao là: 0974.219.888; 01 CCCD số [...] mang tên Đào Thị V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, được lắp một thẻ SIM có số thuê bao là: 0972.991.668; 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 17F8004870, tên chủ hộ kinh doanh: Hoàng Minh H10 do phòng Tài chính – Kế hoạch UBND huyện Đ cấp; 03 quyển số ghi chép của quán; 01 bảng nhựa có in mã QR số tài khoản ngân hàng của Đào Thị V; 01 caser máy tính; 01 màn hình máy tính; 01
máy in hoá đơn thanh toán; 01 CCCD số [...] mang tên Hoàng Minh H10; số tiền 20.000.000 đồng tiền Ngân hàng N3; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INOVA gắn BKS: 20A – 202.15. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng là phù hợp.
[7]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, hình phạt đối với các bị cáo và các nội dung khác của vụ án tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8]. Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh H6 tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Thanh H6 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử; Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Thanh H6 và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[11]. Ngoài ra,
trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Trường M khai đã mua ma túy của một người phụ nữ không biết tên, địa chỉ tại khu vực đê N thuộc phường Q, thành phố T để bán lại cho bị cáo C và Đ; do không xác định được lai lịch địa chỉ cụ thể của đối tượng trên nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.
Đối với Nguyễn Trung K có hành vi mua ma túy của Nguyễn Mạnh C trưa ngày 22/01/2024, tuy nhiên do không thu giữ được vật chứng nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có căn cứ để xem xét xử lý đối với K là phù hợp.
Đối với Nguyễn Minh T2 có mặt tại nơi các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên T2 không có hành vi giúp sức, không sử dụng ma túy cùng các bị cáo nên không cấu thành tội phạm.
Đối với anh Hoàng Minh H10 và chị Đào Thị V là chủ sơ sở kinh doanh Karaoke T nơi các bị cáo C, Đ và H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 22/01/2024, tuy nhiên việc các bị cáo thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy anh H10, chị V hoàn toàn không biết và không có liên quan nên không cấu thành tội phạm.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Vision, BKS: 20C1–
388.00 đăng ký chủ sở hữu mang tên chị Vũ Thị H8 (mẹ đẻ của bị cáo H6). Ngày 22/01/2024 bị cáo M và H6 đã sử dụng để đi bán ma túy; tuy nhiên chị H8 hoàn toàn không biết và không có liên quan nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xem xét xử lý đối với chị H8 và thu giữ chiếc xe mô tô trên là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố:
- - Bị cáo Nguyễn Trường M, Nguyễn Thanh H6 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Bị cáo Ninh Minh Đ, Nguyễn Văn H1 và Dương Thị H3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Nguyễn Trường M 07 (Bẩy) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Trường M 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thanh H6 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh H6 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Mạnh C 02 (Hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Mạnh C 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Ninh Minh Đ (Bẩy) năm tù. Chuyển 24 tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 38/2023/HS-ST ngày
- 17/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thành tù giam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Quyết định tạm giam bị cáo Ninh Minh Đ 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H1 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H1 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Dương Thị H3 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Quyết định tạm giam bị cáo Dương Thị H3 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng của vụ án:
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu V, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, bên trong có vỏ túi nilon và vỏ phong bì ký hiệu Q2.
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu Q1, trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Minh T6, Ma Quốc H12 và hình dấu đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh T, bên trong có 01 đĩa sứ mầu trắng, 01 thẻ nhựa mầu xanh.
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu G, trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Minh T6, Ma Quốc H12 và hình dấu đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh T bên trong có 0,320 gam MDMA và vỏ bao gói còn lại sau giám định.
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu L2, trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Thanh H6, Nguyễn Trường M, các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, bên trong có 1,710 gam MDMA.
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu V1, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, bên trong có vỏ bao thuốc lá và bì niêm phong cũ.
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu G1, trên mép dán có chữ ký của Trương Đăng T7, Ma Quốc H12 và hình dấu đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh T bên trong có 1,7333 gam Ketamine và vỏ bao gói mẫu gửi giám định;
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu G2, trên mép dán có chữ ký của Trương Đăng T7, Ma Quốc H12 bên trong có 0,802 gam MDMA và vỏ phong bì niêm phong ký hiệu G2;
- - 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số: DA5903280.
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) tiền Ngân hàng N3.
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ1, trên mép có dán chữ ký của Nguyễn Văn H1 cùng các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, gắn số thuê bao 0878158869 và 0985415000, số IMEL 867143065148470.
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ2, trên mép có dán chữ ký của Ninh Minh Đ cùng các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE được lắp một thẻ SIM có số thuê bao là 0343557369, số IMEL1: 865413048929955; số IMEL2: 865413048929987.
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ7, trên mép có dán chữ ký của Nguyễn Mạnh C cùng các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE được lắp một thẻ SIM có số thuê bao là 0965352699, số IMEL1: 353975101213763.
- - 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu H3, trên mép có dán chữ ký của Nguyễn Thanh H6 cùng các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE gắn số thuê bao 0389977355, số IMEL: 355387495552095.
- - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu ĐT, trên mép có dán chữ ký của Nguyễn Trường M cùng các thành phần tham gia niêm phong, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE được lắp một thẻ SIM có số thuê bao là0567893678, số IMEL: 350777736783530, điện thoại đã qua sử dụng.
- - 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, mầu sơn Đen, gắn BKS: 30A – 586.67, số khung: RL4BT9F4010420, số máy: 1NZZ209781, xe đã cũ, đã qua sử dụng.
2.3. Trả lại cho:
- - Nguyễn Văn H1 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn H1.
- - Nguyễn Trường M 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Trường M và 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Trường M.
- - Nguyễn Minh T2 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ3, trên mép có chữ ký của Nguyễn Minh T2 cùng các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE được lắp một thẻ SIM có số thuê bao 0349909828, số IMEL: 357261090769065.
- - Dương Thị H3 01 (một) bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ4, trên mép có chữ ký của Dương Thị H3 cùng các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE được lắp một thẻ SIM có số thuê bao 0355855801, số IMEL: 356581101792777.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2024 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ).
3. Truy thu sung vào ngân sách nhà nước:
- Đối với Nguyễn Thanh H6 số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) do bán ma túy mà có.
- Đối với Nguyễn Trường M số tiền 3.600.000đ (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) do bán ma túy mà có.
- Đối với Nguyễn Mạnh C số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) do bán ma túy mà có.
4. Án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Nguyễn Trường M, Nguyễn Thanh H6, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn H1, Ninh Minh Đ và Dương Thị H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo; người bào chữa và người đại diện hợp pháp của bị cáo H6; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Q, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh H10, chị V, chị T2, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Huy Bắc |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 11 giờ ngày 22/01/2024, tại khu dân cư H, thuộc tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Đ, Nguyễn Thanh H6 và Nguyễn Trường M đã bán cho Nguyễn Mạnh C và Ninh M1 Đoàn 07 viên thuốc lắc (Ma túy loại MDMA) và 01 gói ma túy loại Ketamine với giá 4.400.000đ, sau đó C đưa 04 viên thuốc lắc cho Nguyễn Trung K. Số ma túy còn lại C và Đ1 đem đến cơ sở kinh doanh Karaoke T tại xóm L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên khoảng 13 giờ cùng ngày rủ thêm Nguyễn Văn H1 để cùng sử dụng. Tại cơ sở kinh doanh Karaoke Thanh Vân C1, Đ1 và H1 thuê phòng hát số 6 và 02 nhân viên: Dương Thị H3 và Nguyễn Minh T2 để tổ chức sử dụng ma túy. C1 lấy ma túy loại Ketamine và 03 viên ma túy tổng hợp bỏ ra để trên bàn cho các đối tượng sử dụng. H1, C1, Đ1 và H3 mỗi người sử dụng hết ½ viên thuốc lắc. Sau đó C1 bảo H3 ra ngoài lấy đĩa sứ để sử dụng Ketamine, H3 đi lấy 01 chiếc đĩa sứ mầu trắng và lấy từ trong ốp điện thoại của H3 ra 01 chiếc thẻ ngân hàng B2 màu xanh vào đưa cho C1 làm dụng cụ “xào ke”, C1 đổ số Ketamine ra đĩa rồi dùng thẻ nhựa mầu xanh đảo, trộn số Ketamine và chia làm nhiều đường kẻ nhỏ (đường ke), H1 đưa cho H3 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, H3 cuốn tờ tiền thành ống tròn sau đó lấy vỏ của đầu lọc thuốc lá để cố định ống sau đó đặt lên đĩa. C1, H1, Đ1 và H3 cùng sử dụng ma tuý Ketamine và hát. T2 không sử dụng ma túy. Đến 15 giờ 50 phút cùng ngày, Đ1 tiếp tục gọi điện cho H6 đặt mua 02 túi Ketamine và 06 viên thuốc lắc với 5.700.000đ, H6 đồng ý. Các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác Công an tỉnh T bắt quả tang thu giữ các vật chứng có liên quan. Khoảng 19 giờ cùng ngày, M và H6 tiếp tục mang ma túy đến để bán cho nhóm của Đ1 thì bị tổ công tác Công an tỉnh T bắt quả tang thu giữ các vật chứng có liên quan.
