TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HS - ST Ngày 24 - 7 - 2024 | - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thái Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chuyết
Bà Hoàng Thị Thu Hường
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 07 năm 2024 đối với các bị cáo:
Phạm Văn T; Sinh năm 1984 tại Nam Định, Nơi ĐKHKTT: Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Văn H ( đã chết) và bà: Vũ Thị T1; Có vợ là: Nguyễn Thị N; Có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự : Không; Nhân thân: Ngày 15/06/2017 bị TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội “Đánh bạc”; Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ công an huyện T từ ngày 19/11/2023 đến ngày 28/11/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay. ( Có mặt)
Nguyễn Văn T2; Sinh năm 1999 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình T3 ( đã chết) và bà: Hoàng Thị M; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/12/2013 bị TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G1, thời hạn 24 tháng, đến ngày 01/9/2015 chấp hành xong.; Ngày 17/10/2018, bị TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 61/2018/HSST, đến ngày 29/4/2020 chấp hành xong hình phạt. Bị cáo bị biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/11/2023 đến nay. ( Có mặt).
Phạm Văn K; Sinh ngày 25/3/2005 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: TDP B, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Văn Đ và bà: Bùi Thị X; Vợ, con: chưa có. Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 24/03/2023 bị TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gia thử thách 03 năm về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 15/2023/HS-ST; Ngày 12/06/2024 bị TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 9 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự số 15/2023/HS -ST ngày 24/03/2023 của TAND huyện Trực Ninh tuyên phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Buộc bị cáo Phạm Văn K phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/03/2024. Bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn K bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/11/2023 đến ngày 27/03/2024 bị tạm giam về hành vi đánh bạc tại Nhà tạm giữ công an huyện N. Ngày 20/06/2024, bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh N đến nay ( có mặt).
Trương Văn B; Sinh năm 1992 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi tạm trú: Tổ D, phường Y, quận C, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trương Phong C và bà: Đào Thị H1 ( đã chết); Có vợ là : Phạm Thị Mỹ L, có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 10/01/2024 đến nay. ( Có mặt)
Mai Văn C1; Sinh năm 1992 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi tạm trú: Tổ E, phường Y, quận C, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Mai Văn Đ1 và bà: Nguyễn Thị Y; Có vợ là : Bùi Thị M1, có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 10/01/2024 đến nay. ( Có mặt).
Đào Văn T4; Sinh năm 1987 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đào Văn T5 và bà: Trương Thị L1 ; Vợ : Nguyễn Thị T6, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 10/01/2024 đến nay. ( Có mặt).
Đào Văn H2; Sinh năm 1992 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi tạm trú: Tổ E, phường Y, quận C, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đào Văn G và bà: Trương Thị H3; Có vợ là : Nguyễn Thị Ngọc L2, có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 10/01/2024 đến nay. ( Có mặt).
Người làm chứng: Chị Hoàng Thị P ( có mặt); Anh Ngô Văn C2, Anh Đồng Văn N1; Anh Đỗ Ngọc N2 (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 18/11/2023, Phạm Văn T điều khiển xe máy chở chị Hoàng Thị P, sinh năm 1997, trú tại xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình đi từ trục đường xã T, huyện T ra đường T hướng ra phía ngã ba Tam thôn thuộc thôn N, xã T, huyện T thì gặp nhóm của Đào Văn T4, Trương Văn B, Mai Văn C1, Đào Văn H2 đang đi từ xã N, huyện N cũng đi ra đường tỉnh lộ 488B hướng về ngã ba T. Trong đó, B điều khiển xe máy Honda Future chở H2 đi phía trước còn T4 điều khiển xe máy Yamaha Exciter chở C1 đi phía sau. Khi T, P đi gần đến khu vực ngã ba Tam thôn thì gặp xe của B chở H2 đang đi ở phía trước. T tăng ga vượt qua xe của B. Thấy vậy, B cũng tăng ga đi lên song song rồi quay lại nói “Anh ơi”, T liền hỏi lại “Có chuyện gì thể”. Nghĩ T thách thức, B nói luôn “Thích va không”. T liền điều khiển xe vượt lên trên xe của B rồi dừng xe ở mép đường phía đông tỉnh lộ 490C phía trước đầu xe của B. T xuống xe hỏi lại B “Va gì, có ai gọi lên đây hết đi”. B cũng dùng xe lại rồi đi xuống nói “Bọn tao không chỉ có hai người, bọn tao có cả chục người, mày cứ gọi người của mày đến đây”.
Thấy B thách thức, T liền dùng tay đấm vào mặt B. Thấy B bị đánh H2 liền lao vào dùng tay, chân đấm, đá đánh lại T. Cùng lúc này, T4 chờ C1 đi tới cũng dừng xe lại lao vào dùng tay, chân đấm, đá đánh T. Thấy nhóm B có đông người nên T bỏ chạy sang phía bên kia đường. H2, C1, T4 tiếp tục đuổi theo dùng tay chân đấm đá vào người T. Thấy T bị nhóm B đuổi đánh, chị P liền dùng điện thoại nhắn tin qua ứng dụng M2 cho Nguyễn Văn T2 với nội dung: “Anh lên khu năm tầng em với anh T đang bị đánh”, ý bảo T2 lên để ngăn không cho nhóm B đánh T. Lúc này, Phạm Văn K đang ngồi cùng T2 tại quán Karaoke “Nhím” thuộc thôn L, xã T. T2 đưa tin nhắn cho K đọc và nói T, P đang bị đánh ở ngã ba T và rủ K đi cùng, K đồng ý. T2 đi ra mượn một xe máy Honda Airblade màu đen (không rõ biển số) của một người đàn ông đến hát ở quán Karaoke “Nhím” còn K chạy vào phòng thuê trọ của mình ở gần quán lấy 02 đoạn tuýp sắt, một đầu có gắn dao nhọn, có một cạnh sắc dài 173 cm và 184cm; 01 thanh kiếm tự chế bằng kim loại dài 80 cm, lưỡi kiếm dài 57 Khang cất giấu từ trước. K đưa toàn bộ số hung khí này cho T2 rồi lên xe máy điều khiển chở T2 đi theo đường tỉnh lộ 490C ra khu vực ngã ba T.
Trong lúc B cùng H2, T4, C1 đuổi đánh T, chị P nhìn thấy có điện thoại rơi ở trên đường. Nghĩ là điện thoại của T nên P cúi xuống định nhặt lên thì B quay lại túm tóc chị P chửi: “Đ.mẹ con chó này, định lấy điện thoại của tao à” rồi dùng tay, chân đấm đá, tát liên tục vào mặt chị P. Chị P lấy tay ôm mặt rồi ngồi xuống đường. B tiếp tục lấy 01 thùng nhựa màu trắng (dạng thùng sơn 20 lít đã qua sử dụng) được dùng làm thùng đựng rác đặt ở lề đường đập vào người chị P và quát “Quỳ xuống” còn T4, H2, C1 tiếp tục đuổi đánh T sang lề đường phía tây tỉnh lộ 490C giáp khu dân cư thuộc xã N, huyện N. H2 lao vào đấm T nhưng đấm trượt khiến H2 ngã ra lề đường, H2 đứng dậy ôm T để T4 đứng đối diện đấm liên tiếp vào mặt T, T cúi người đỡ. Sau đó, H2 dùng chân lên gối một phát vào bụng T còn C1 lấy 01 viên gạch men hình vuông có cạnh dài khoảng 30cm đến 35 cm (dạng gạch ốp lát) ở mé đường đập vào đầu T làm T bị chảy máu phía sau đầu.
Lúc này H2, T4 thấy K, T2 cầm theo hung khí đi đến nên H2 bỏ chạy về phía ngã ba T, T4 lấy xe máy chạy về phía thị trấn L. Tăng, K đi gần đến ngã ba T thì dựng xe ở vệ đường. T2 cầm đoạn tuýp sắt gắn dao nhọn còn K cầm 01 kiếm chạy đến vị trí chị P đang bị đánh. K dùng chân đạp làm B bị ngã ra đường rồi tiếp tục dùng kiếm chém một phát về phía B trúng vào tay trái còn T2 cầm đoạn tuýp sắt gắn dao tiếp tục đuổi theo đánh H2.
H2 bỏ chạy vào tỉnh lộ 488B về phía cầu Đ khoảng 100m thì trượt chân ngã, chống tay xuống nên đường bị dập gẫy ngón tay cái bàn tay trái. Tăng không đuổi H2 nữa mà quay lại cùng K đuổi theo đánh B. Khi B chạy vào tỉnh lộ 488B khoảng 20m thì vấp ngã ra đường, K liền chạy đến dùng kiếm chém 02 phát vào phần lưng, mông của B làm chảy máu rồi cùng T2 dùng chân đá vào mặt, bụng của B. Sau đó T2, K quay lại chỗ T thì B bỏ chạy về phía cầu Đ. Lúc này, T chạy lại lấy 01 tuýp sắt, một đầu gắn dao nhọn do T2, K mang đến rồi cùng T2, K chạy ra khu vực ngã ba T và đi vào tỉnh lộ 488B để tìm B, H2 nhưng không thấy. T, T2, K quay lại thì phát hiện C1 đang đứng ở mé đường. Tăng, K liền chạy đến túm cổ áo C1 hỏi “Gia đình thằng kia ở đâu, có mấy thằng đi cùng?”, T lao đến đạp từ phía sau lưng khiến C1 ngã ra đường. K tiếp tục cầm kiếm chém về phía lưng C1 làm chảy máu, T túm cổ áo kéo C1 đứng dậy đồng thời cầm tuýp sắt gắn dao đập phần tay cầm vào mặt C1 khiến C1 bị rách da ở vùng quai hàm. Lúc này có nhiều người đi qua đường đứng lại xem trong đó có anh Đỗ Ngọc N2 sinh năm 2001 ở xóm H và anh Đồng Văn N1 sinh năm 1999 ở xóm A, xã N, huyện N là người quen của T vừa đi ăn đêm đã vào can ngăn, giằng tuýp sắt gắn dao từ tay T ra vứt ở lề đường còn T2, K tiếp tục cầm tuýp sắt gắn dao, kiếm đi lại xung quanh khu vực ngã ba T để tìm đánh nhóm B, H2, T4 nhưng không tìm thấy. Sau đó, T túm áo vật C1 ngã xuống đường rồi dùng chân đá vào mặt C1. Khi thấy có người hô Công an đến thì Tuân bỏ về quán Karaoke “Nhím” còn K cầm theo hung khí mang về phòng trọ cất giấu còn T2 đưa C1 đi cấp cứu.
Hậu quả:
- Mai Văn C1 bị rách da ở vùng má bờ mép sắc gọn có kích thước (4x1) cm; rách da vùng lưng bờ mép sắc gọn kích thước (6x3)cm; vỡ gai sau T12L3.
- Trương Văn B bị 03 vết thương gồm: 01 vết thương rách da vùng mông phải kích thước (6x2)cm, bờ mép nham nhở; rách da vùng cánh tay trái kích thước (2x1)cm, bờ mép sắc gọn; rách da vùng lưng trái kích thước (5x3)cm, bờ mép sắc gọn lộ gân cơ.
- Đào Văn H2 bị dập ngón tay cái của bàn tay trái (do tự ngã trong quá trình bỏ chạy).
- Chị Hoàng Thị P bị rách da bên trong miệng ở vùng môi phía trên khâu 12 mũi.
- Phạm Văn T bị xước da ở vùng gáy dài khoảng 3cm
Sau khi sự việc xảy ra, UBND xã T có văn bản đề nghị xử lý nghiêm hành vi của các đối tượng tham gia đánh nhau, gây rối trật tự công cộng làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn.
Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 438 ngày 30/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh H xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Văn B tại thời điểm giám định là 04%. Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu và khám giám định, nhận định: Rách da do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
* Vật chứng thu giữ.
- Phạm Văn K tự giác giao nộp: 01 tuýp sắt gắn dao nhọn dài 173 cm, lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc dài 24cm; 01 tuýp sắt gắn dao nhọn dài 184 cm, lưỡi dao có một cạnh sắc dài 34 cm; 01 kiếm tự chế bằng kim loại dài 80 cm, lưỡi kiếm dài 57 cm.
- Thu giữ 01 thùng nhựa màu trắng (dạng thùng sơn 20 lít) đã qua sử dụng, đường ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 18K1-030.56.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS - TN ngày 29 tháng 03 năm 2024 của VKSND huyện Trực Ninh truy tố các bị cáo Đào Văn T4, Đào Văn H2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; Truy tố các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn K, Nguyễn Văn T2, Trương Văn B, Mai Văn C1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên, rút một phần Quyết định truy tố về tình tiết “tái phạm” đối với bị cáo Phạm Văn K và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Văn T2, Phạm Văn K, Trương Văn B, Mai Văn C1; Đào Văn T4, Đào Văn H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án đều hợp pháp.
Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của Người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của BLTTHS.
[2] Về quan điểm Đại diện VKS và các bị cáo tại phần thủ tục tranh luận: HĐXX thấy việc tranh luận, đối đáp đúng trình tự quy định của pháp luật, các bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi tranh tụng. Quan điểm tranh tụng của các bên đã được HĐXX cân nhắc, đánh giá khi nghị án.
Đối với bị cáo Phạm Văn K, tại Bản án số 15/2023/HS-ST ngày 24/03/2023 bị TAND huyện Trực Ninh đã tuyên phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tại thời điểm bị kết án năm 2023 bị cáo K chưa đủ 18 tuổi nên theo quy định tại khoản 1 Điều 107 BLHS, Bản án số 15/2023/HS-ST ngày 24/03/2023 của TAND huyện Trực Ninh không xác định là tiền án đối với Phạm Văn K nên việc Đại diện VKS rút một phần Quyết định truy tố về tình tiết “tái phạm” đối với Phạm Văn K là có căn cứ pháp luật, được HĐXX chấp nhận.
[3] Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà được chứng minh bằng các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bằng lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như lời khai người làm chứng, Kết luận giám định thể hiện: Tối ngày 18/11/2023 Phạm Văn T, Nguyễn Văn T2, Phạm Văn K, Trương Văn B, Mai Văn C1 có hành vi sử dụng tuýp nước gắn dao, kiếm tự chế bằng kim loại, gạch, thùng sơn bằng nhựa đuổi đánh nhau, gây thương tích cho C1, B, T và chị Hoàng Thị P; Đào Văn T4, Đào Văn H2 sử dụng tay chân đuổi đánh Phạm Văn T trên tuyến tỉnh lộ 488B và tỉnh lộ 490C thuộc thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Hai bên tỉnh lộ 488B và tỉnh lộ 490C là khu vực đông dân cư, có nhiều phương tiện giao thông ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông, an ninh, trật tự an toàn khu vực đông dân cư.
[4] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh, quy tắc sống của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, chính trị ở địa phương và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở nơi công cộng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức được việc gây rối trật tự công cộng là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Từ những nhận định trên đây, HĐXX thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi đuổi đánh nhau tại khu vực đông dân cư có nhiều phương tiện giao thông qua lại vào ngày 18/11/2023 của Phạm Văn T, Phạm Văn K, Nguyễn Văn T2, Trương Văn B, Mai Văn C1; Đào Văn T4, Đào Văn H2 đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” - Tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 318 BLHS.
Các bị cáo Đào Văn T4, Đào Văn H2 phải chịu TNHS theo quy định tại khoản 1 Điều 318 BLH
Các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Văn T2, Phạm Văn K; Trương Văn B, Mai Văn C1 phải chịu TNHS theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS do có sử dụng hung khí khi phạm tội.
Việc VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố bị cáo về tội danh và hành vi phạm tội tại bản Cáo trạng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo đã gây ra - HĐXX xét thấy để đảm bảo trật tự pháp luật, phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là điều cần thiết.
[6] Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 52 BLHS
[7] Về tình tiết giảm nhẹ TNHS:
Các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện kkhắc phục hậu quả của tội phạm, có đề nghị giảm nhẹ hình phạt (Có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú) nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Mai Văn C1 xét thấy đã phạm tội rất nghiêm trọng nhưng có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm cũng được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ quy định tại Điều 54 BLHS, HĐXX thấy có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo Mai Văn C1 như đề nghị của Đại diện VKS.
Các bị cáo Đào Văn T4, Đào Văn H2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.
HĐXX xét thấy khi quyết định hình phạt cần cân nhắc tới các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội để vừa thể hiện tính nhân đạo, công bằng của pháp luật, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo.
[8] Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị của Đại diện VKS, HĐXX xét thấy:
Các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Văn T2, Trương Văn B, Mai Văn C1; Đào Văn T4, Đào Văn H2 có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ - Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS thấy không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần tuyên một mức hình phạt để các bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với bị cáo Phạm Văn K, tại Bản án số 15/2023/HS-ST ngày 24/03/2023 đã bị TAND huyện Trực Ninh đã tuyên phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”, ngày 12/06/2024 bị TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử xử phạt 9 tháng tù về tội “ Đánh bạc” nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung tình hình tội phạm.
[9] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra Phạm Văn T, Nguyễn Văn T2, Phạm Văn K tự nguyện bồi thường cho Mai Văn C1 số tiền 70.000.000 đồng; Trương Văn B tự nguyện bồi thường cho chị Hoàng Thị P 10.000.000 đồng; Nguyễn Văn T2, Phạm Văn K tự nguyện bồi thường cho Trương Văn B 10.000.000 đồng; Đào Văn T4, Đào Văn H2 mỗi bị cáo tự nguyện bồi thường cho Phạm Văn T 1.000.000 đồng; Mai Văn C1 tự nguyện bồi thường cho Phạm Văn T 5.000.000 đồng. T, C1, P, B đã nhận đủ các số tiền và không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, không có ai có yêu cầu về dân sự nên HĐXX không xem xét.
[9] Vật chứng là công cụ thực hiện hành vi phạm tội hoặc không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future, biển số 18K1-030.56 là tài sản của ông Đào Văn G, sinh năm 1967, trú tại thôn E, xã N, huyện N (là bố của bị cáo H2 . Cơ quan CSĐT đã trả lại cho ông G.
Đối với viên gạch đá hoa hình vuông (dạng gạch ốp lát) có kích thước khoảng 30cm đến 35 cm, C1 sử dụng đánh T đã bị vỡ. Sau khi xảy ra sự việc, ông Nguyễn Quyết T7 ở ngã ba T, xã T, huyện T đã thu dọn vứt đi nên Cơ quan CSĐT không thu giữ được.
Đối với chiếc xe máy Honda Airblade màu đen (không rõ biến số) Tăng mượn của một người đàn ông không quen biết đến hát tại quán Karaoke “Nhím” là phương tiện T2 sử dụng chở K đi thực hiện hành vi phạm tội . Sau đó T2 lại cho người đàn ông đó. Cơ CSĐT đã tiến hành xác minh nhưng không thu giữ được.
Đối với chiếc xe máy Honda AirBlade, biển số 33P9-5858 và chiếc xe máy Yamaha Exciter, biển số 18K1-02501 là phương tiện cá nhân của T, Thông sử dụng phục vụ nhu cầu đi lại hàng ngày. T, T4, không sử dụng vào việc thực hiện tội phạm nên Cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ.
Xét thấy việc xử lý việc xử lý vật chứng của CQCSĐT Công an huyện T là đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét.
[10] Án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Văn T2, Trương Văn B, Mai Văn C1, Phạm Văn K, Đào Văn T4, Đào Văn H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
1.1.Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS:
Xử phạt Phạm Văn T 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 24/07/2024. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2023 đến ngày 28/11/2023).
Xử phạt Nguyễn Văn T2 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Ngày 24/07/2024).
Giao các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Văn T2 cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giảm sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt Trương Văn B 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là là 04 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Ngày 24/07/2024).
1.2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 BLHS:
Xử phạt Mai Văn C1 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 3 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Ngày 24/07/2024).
1.3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS:
Xử phạt Phạm Văn K 30 tháng tù. Áp dụng Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS - ST ngày 12/06/2024 của TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã xử phạt bị cáo 27 tháng tù. Buộc bị cáo Phạm Văn K phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 04 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/03/2024.
1.4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS :
1.5. Xử phạt Đào Văn H2 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 24/07/2024).
Giao các bị cáo Trương Văn B, Mai Văn C1, Đào Văn H2 cho UBND phường Y, quận C, TP Hà Nội giảm sát giáo dục trong thời gian thử thách.
1.6. Xử phạt Đào Văn T4 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 24/07/2024).
Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp các bị cáo được hưởng án treo có tên nêu trên chuyển nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, các bị cáo được hưởng án treo có tên nêu trên cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS - Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 tuýp sắt gắn dao nhọn dài 173cm; 01 tuýp sắt gắn dao nhọn dài 184cm; 01 kiếm tự chế bằng kim loại dài 80cm ; 01thùng sơn bằng nhựa màu trắng đã qua sử dụng. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữa CQCSĐT Công an huyện T, tỉnh Nam Định với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định ngày 03/04/2024.)
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Văn T2, Trương Văn B, Mai Văn C1, Phạm Văn K, Đào Văn T4, Đào Văn H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - VKSND huyện, tỉnh;
- - Công an huyện Trực Ninh;
- - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
- - UBND xã Nam Thái, huyện Nam Trực;
- - UBND xã Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Hưng;
- - UBND Phường Yên Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội;
- - UBND thị trấn Liễu Đề, huyện Nghĩa Hưng;
- - Các bị cáo
- - Lưu HS + VP
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thái Hà |
Bản án số 43/2024/HS - ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 43/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội gây rối trật tự công cộng
