|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày: 06-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyên
Ông Đỗ Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thùy Chung - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Thiêm Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Văn Đ
(Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 10 tháng 8 năm 1976 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn T và bà Hứa Thị K (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Vũ Thị X, sinh năm 1976, và 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án: 02: Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 26/02/2021, chưa được xóa án tích; Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 03/01/2024, chưa được xóa án tích.
Về nhân thân: Bản án số 111/2013/HSST ngày 18/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 01/01/2015, đã được xóa án tích. Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/9/2024 cho đến nay (Có mặt).
* Bị hại: Anh Vũ Văn B, sinh năm 1984, nghề nghiệp: Làm ruộng - Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1971, nghề nghiệp: Lao động tự do - Địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng:
Bà Vũ Thị X, sinh năm 1977 - Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).
Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1981 - Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
Anh Bàn Hồng N, sinh năm 1984 - Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân không có tiền để tiêu dùng cá nhân, vào khoảng hơn 13 giờ ngày 26/7/2024, Đinh Văn Đ nhớ ra tại khu vực lán chăn nuôi của vợ chồng anh Vũ Văn B (em ruột của vợ Đ) và chị Lường Thị H1 thuộc thôn Bản Tặc, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn có lắp đặt chiếc máy bơm nước, nên Đ liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy bơm. Đ đi ra sân nhà của Đ lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn đen biển số đăng ký 97H1 – 012.76, xe của chị Vũ Thị X (Vợ của Đ) dựng ở sân và có cắm chìa khoá ở ổ khoá điện (Khi Đ lấy xe đi chị X không biết), nổ máy và điều khiển chiếc xe đi lên thẳng khu lán chăn nuôi của gia đình anh B và chị H1. Khi đến nơi, Đ dựng xe ở đường gần bờ rào vườn nhà ông Đinh Thế N1, thuộc thôn Bản Tặc, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, rồi dùng tay rút thanh then ngang bằng cây vầu ở cổng ra rồi đi bộ vào bên trong vườn. Đ đi thẳng về hướng lán chăn nuôi của anh B và thấy chiếc máy bơm nước nhãn hiệu TAIJA, loại MODEL: JAPAN-J700, màu xanh, xám, của anh B được lắp đặt ở trên một tấm ván gỗ gác lên tường chuồng lợn và téc nước, được quấn bằng một sợi dây xích gắn chặt vào tấm ván gỗ nhưng không có khoá. Quan sát xung quanh không có ai, Đức tiến lại gần chiếc máy bơm rồi tay trái giữ chiếc máy bơm, tay phải tháo sợi dây xích. Khi tháo xong Đ rút vòi nước ra khỏi máy bơm rồi dùng tay phải xách chiếc máy bơm đi bộ ra vị trí để chiếc xe máy và đặt chiếc máy bơm nước lên giá chở hàng đằng trước của xe mô tô, sau đó điều khiển xe máy đi theo đường bê tông liên thôn hướng lên đường quốc lộ 3 và đi lên hướng xã B, huyện N. Tại xã B, Đ điều khiển xe đi đến địa điểm thu mua phế liệu là nhà bà Hồ Thị H tại thôn K, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, bán chiếc máy bơm nước cho bà H được số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), sau đó Đ điều khiển xe mô tô đi theo đường bê tông liên thôn vào Khu AB, xã B, trên đường về Đức có đi vào quán tạp hoá của anh Bàn Hồng N thuộc thôn P, xã Đ để uống bia và hết số tiền là 36.000 đồng (Ba mươi sáu nghìn đồng), sau đó Đ đi về nhà, số tiền còn lại Đ đã mang đi tiêu dùng cá nhân hết.
Đến chiều tối ngày 27/7/2024 anh Vũ Văn B phát hiện chiếc máy bơm nước tại lán chăn nuôi đã bị mất trộm nên trình báo đến Công an xã Đ, huyện N đề nghị xác minh, làm rõ vụ việc.
Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG ngày 06/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận chiếc máy bơm nước, nhãn hiệu TAIJA, loại MODEL: JAPAN-J700, màu xám, xanh, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị là 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 38/CT-VKS-NS, ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Đinh Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- - Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét.
- - Về xử lý vật chứng trong vụ án: Đề nghị trả lại cho bị hại anh Vũ Văn B 01 (một) chiếc máy bơm bị tạm giữ trong vụ án.
- - Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên; Tại phần tranh luận, bị cáo cho rằng mức án Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là cao. Ngoài ra, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bổ sung bào chữa hay khiếu nại gì. Lời sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng (đã có đơn xin xét xử vắng mặt), người làm chứng bà Vũ Thị X vắng mặt. Bị cáo, bị hại, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Khoảng hơn 13 giờ 00 phút ngày 26/7/2024 tại lán chăn nuôi của vợ chồng anh Vũ Văn B và chị Lường Thị H1 thuộc thôn Bản Tặc, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo Đinh Văn Đ đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu TAIJA, loại MODEL: JAPAN-J700, màu xám, xanh có giá trị là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) mang đi bán để lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Hành vi trộm cắp của bị cáo chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng do trước đó bị cáo đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo lần này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”
Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, gây mất trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản thực hiện hành vi phạm tội để bán tài sản lấy tiền tiêu dùng cá nhân.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, hình phạt đối với bị cáo
Bị cáo là người có nhân thân xấu từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo có 02 tiền án cùng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 05/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 và Bản án số 05/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Cả 02 tiền án này đều được sử dụng để định tội đối với bị cáo, do đó, không được coi là tình tiết tăng nặng “Tái phạm”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo nhiều lần bị xử phạt tù cùng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa mà tiếp tục phạm tội thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, nên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần được cân nhắc, xem xét để đảm bảo việc xét xử công bằng, nghiêm minh. Cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam trong một thời gian nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và cũng để răn đe, phòng ngừa chung.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có tài sản, thu nhập do đó không xem xét áp dụng.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 100.000đ đã bỏ ra mua chiếc máy bơm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Đối với 01 (một) chiếc máy bơm nước bị tạm giữ, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là các tài sản hợp pháp của anh Vũ Văn B, nên cần trả lại cho anh B.
[6] Vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với bà Vũ Thị X là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô BKS 97H1-012.76, việc bị cáo sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản bà X không biết, nên không xem xét xử lý là có căn cứ.
Đối với bà Hồ Thị H là người đã mua chiếc máy bơm nước, quá trình mua bán bà H không biết chiếc máy bơm nước là do bị cáo trộm cắp mà có, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà H là có căn cứ.
[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và có đơn xin miễn án phí. Do vậy bị cáo được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Trả lại cho bị hại anh Vũ Văn B, sinh năm 1984 - Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn: 01 (một) chiếc máy bơm nước, nhãn hiệu TAIJA, loại MODEL: JAPAN-J700, màu xám xanh, loại máy đã qua sử dụng.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn).
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Út Lệ |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
