|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày 30/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tôn
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Văn Nguyên;
- Ông Thẩm Thanh Hải;
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuấn - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Bế Sư Chưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với:
Bị cáo Nông Văn T, sinh ngày 21/3/1976.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng;
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nông Văn Đ, (đã chết) và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1944; Vợ: Ma Thị Q, sinh năm 1974; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/6/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Nguyên đơn dân sự:
Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng – Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn Đ1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng.
Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn dân sự: Ông Hoàng Ngọc T1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Ma A D, sinh năm 1976; Địa chỉ: Xóm B, xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt);
- - Ông Lục Văn L, sinh năm 1985; Địa chỉ: Xóm N, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bế Văn B - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/4/2024, Công an xã S, huyện B nhận được tin báo của ông Ma A D, sinh năm 1976 về việc phá rừng xảy ra tại xóm B, xã S, do Nông Văn T sinh năm 1976, trú tại xóm B, S, B, Cao Bằng thực hiện. Diện tích rừng bị chặt phá khoảng hơn 5.100m², thuộc đất rừng Cộng đồng xóm B, xã S quản lý. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội Huỷ hoại rừng nên Công an xã S đã chuyển nguồn tin trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để tiếp tục xác minh, làm rõ.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành xác minh, xác định được như sau: Vào khoảng cuối tháng 12/2023 âm lịch, Nông Văn T một mình lên khu rừng thuộc xóm B, S, Bảo L1, Cao Bằng chặt phá rừng mục đích để trồng các loại cây khác phát triển kinh tế gia đình. Khi đi, T cầm theo 01 con dao quắm và 01 máy cưa xăng để phá rừng. T dùng dao quắm để phát cây bụi và chặt các cây nhỏ, còn các cây to thì dùng máy cưa xăng để cưa đổ, việc phá rừng diễn ra trong hai ngày. Quá trình chặt phá rừng, T không xin phép cơ quan chức năng nào để khai thác hay chuyển đổi mục đích sử dụng.
Ngày 24/5/2024, Cơ quan điều tra cùng các thành phần chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, đo đạc diện tích rừng bị chặt phá. Kết quả: Vị trí rừng bị chặt phá tại xóm B, xã S thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 02, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY626531 cấp ngày 26/8/2016 thuộc quản lý của Cộng đồng xóm B, xã S, B, Cao Bằng. Diện tích rừng bị chặt phá là 5.694,9m². Qua kiểm đếm, có 171 cây gỗ bị chặt hạ đường kính từ 06cm trở lên có tổng khối lượng là 11,657m³.
Tiến hành xác định loại đất rừng bị Nông Văn T chặt phá, là rừng sản xuất. Có hiện trạng là rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt.
Ngày 19/6/2024, Cơ quan điều tra đã ra yêu cầu định giá tài sản đối với 11,657m³ gỗ thông thường bị chặt phá. Tại kết luận định giá tài sản số 18 ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện B kết luận: Giá trị của 11,657m³ gỗ thông thường là 5.711.930 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Nông Văn T đã thừa nhận hành vi của mình, lời khai của T phù hợp với lời khai những người liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.
- - Về hình phạt đề nghị:
- + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 12 đến 15 tháng từ nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn dân sự: bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, mục đích phá rừng mong muốn có đất để tăng gia sản xuất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, về phần trách nhiệm bồi thường dân sự đề nghị bị cáo bồi thường theo quy định.
* Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, tôi nhất trí đối với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng về tội danh, điều luật đã truy tố về hành vi của bị cáo về tội "Hủy hoại rừng" theo điểm b khoản 1, Điều 243 là có căn cứ pháp luật; tuy nhiên, với tư cách là người bào chữa tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về các yếu tố sau: nhân thân người phạm tội, về trình độ học vấn, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quanh năm gắn bó với lao động trồng trọt, nên ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức hiểu biết pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Ngày 30/10/2024 bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.711.930 đồng, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng) để khắc phục hậu quả do mình gây ra, mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Bị cáo không có ý kiến bổ sung quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào khoảng tháng 12 âm lịch năm 2023, Nông Văn T đã thực hiện hành vi chặt, phá khu rừng thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 02, lô A, khoảnh 1B, tiểu khu A thuộc xóm B, xã S với tổng diện tích là 5.694,9m² nhằm mục đích lấy đất để trồng ngô, cải thiện đời sống. Khu rừng bị chặt phá là rừng sản xuất có hiện trạng là rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt. Số cây gỗ bị chặt hạ là 171 cây, thuộc nhóm gỗ thông thường, có khối lượng 11,657m³. Kết quả định giá xác định giá trị số cây bị chặt phá là 5.711.930 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nông Văn T là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi do mình gây ra, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nông Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, quá trình sinh sống tại địa phương luôn thực hiện tốt, đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo và ăn năn hối lỗi về hành vi mình gây ra. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, ngày 30/10/2024 bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.711.930đ tại Chị cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc để khắc phục hậu quả do mình gây ra. Do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa phương luôn thực hiện tốt, đầy đủ nghĩa vụ của công dân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần đưa ra một mức án phù hợp để giám sát giáo dục các bị cáo mà vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
* Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Tổng trị giá lâm sản bị thiệt hại là 5.711.930 đồng, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho Nhà nước theo quy định.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 171 cây gỗ thông thường có khối lượng 11,657m³ hiện đang để tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện B, giao cho UBND xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng xử lý tận thu theo quy định.
- - Đối với 01 con dao quắm (đã qua sử dụng) là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- - Đối với 01 (Một) máy cưa xăng nhãn hiệu HUS PANDA (đã qua sử dụng) xét thấy công cụ này T mượn của Lục Văn L, L không biết mục đích T mang máy cưa xăng đi làm gì nên cần trả lại cho Lục Văn L là có căn cứ.
[6] Về án phí: bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí theo quy định và đã có đơn xin miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Hủy hoại rừng”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn T 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nông Văn T cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Giao cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng xử lý tận thu theo quy định đối với: 171 cây gỗ thông thường có khối lượng 11,657m³, hiện đang được đang quản lý tại hiện trường vụ việc.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) con dao quắm dài 35,5cm, cán gỗ dài 19cm, bản rộng nhất 5.5cm, bản hẹp nhất 4,5cm, dao đã qua sử dụng;
- - Trả lại cho Lục Văn L 01 máy cưa xăng nhãn hiệu HUSPANDA (đã qua sử dụng).
Toàn bộ số vật chứng đã được giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 03ª ngày 14/10/2024 và số 036, 03º, ngày 23/10/2024.
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo phải bồi thường cho Nhà nước số tiền 5.711.930 đồng (Năm triệu bảy trăm mười một nghìn chín trăm ba mươi đồng). Xác nhận bị cáo đã tạm nộp số tiền 5.711.930 đồng, theo biên lai thu tiền số: 0003801, ngày 30/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nông Văn T được miễn toàn bộ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nông Văn Tôn |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG về hủy hoại rừng
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn T phạm tội Huỷ hoại rừng
