Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH GIANG

TỈNH HẢI

DƯƠNG

--------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày: 29/10/2024



NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hồ Phương và ông Phạm Huy Điệu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân(VKSND)huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 29/10/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 04/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 16/10/2024, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn K, sinh năm 1989 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K1 và bà Trịnh Thị Đ (đều đã chết); tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/ QĐ-XPHC ngày 18/12/2023 của Công an xã Đ, xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 20/12/2023; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 58 ngày 25/01/2008 của Công an huyện N, xử phạt 300.000 đồng về hành vi Đánh nhau, chấp hành xong ngày 12/02/2008. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024, đến ngày 13/3/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H - Có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo: Ngô Văn H, sinh năm 1998 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M và bà Vũ Thị N; vợ: Phạm Thị Lan A; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2020/HS-ST ngày 07/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội Đánh bạc. Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2021/HS- ST ngày 16/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt 08 tháng tù của bản án số 22 ngày 07/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, phải thi hành 23 tháng tù, chấp hành án xong ngày 03/12/2022. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024, đến ngày 13/3/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H - Có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo: Nguyễn Văn P, sinh năm 1993 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị H1; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ- XPHC ngày 25/12/2009 của Công an huyện N, xử phạt 175.000 đồng về hành vi Đánh nhau, chấp hành xong ngày 29/12/2009. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 224/ QĐ- XPVPHC ngày 16/10/2017 của Công an huyện N, xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 20/10/2017. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2024, đến ngày 20/3/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H - Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Chị Hồ Thị T; bà Đào Thị L - Vắng mặt.


NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn K cùng bạn gái là Hồ Thị T thuê nhà của bà Đào Thị Lê. Trưa ngày 05/3/2024, Ngô Văn H đi xe ôm đến phòng trọ của K chơi, tại đây, H hỏi kiên “Anh còn đồ không”, tức là còn ma túy không để cùng sử dụng. K bảo “Hết rồi, mày có tiền đưa anh đi mua”, H đồng ý. Sau đó H sử dụng số điện thoại 0337.697.xxx gọi vào số 0378 870 135 của vợ là Phạm Thị Lan A và em họ Ngô Văn P1 chuyển tiền cho K. Lan A, P1 đăng nhập vào ứng dụng M2 (được cài trước đó số tài khoản 211 998 266 1999 mang tên Ngô Văn H trong điện thoại của Lan A và P1) chuyển số tiền 2.200.000 đồng (lần thứ nhất Lan A chuyển 1.200.000 đồng, lần thứ hai P1 chuyển 1.000.000 đồng) vào số tài khoản 0981 212 497 mang tên Nguyễn Văn K, ngân hàng M3. H không nói với chị Lan A và anh P1 biết chuyển tiền để làm gì. Sau đó K gọi điện thoại bằng zalo vào tài khoản zalo “Hiếu Sơn” hỏi mua ma túy (K không biết họ tên, địa chỉ, do trước đó K được người này nói là có ma túy đá bán và cho tài khoản zalo nhưng không cho số điện thoại). “Hiếu Sơn” đồng ý, yêu cầu K chuyển 2.200.000 đồng vào số tài khoản 9696 220 892 9999 mang tên Nguyễn Văn T1 ngân hàng MB. Sau đó K sử dụng tài khoản ngân hàng của K chuyển số tiền 2.200.000 đồng vào số tài khoản do “Hiếu Sơn” cung cấp thì được hướng dẫn địa điểm, vị trí cất giấu ma túy ở Hải Phòng (khu vực cầu T). K thuê xe ô tô nhãn hiệu

Toyota màu trắng, biển kiểm soát 34A- 572.32 của anh Nguyễn Văn T2 chở K, H đến khu vực cầu T (không xác định được địa chỉ cụ thể) thì dừng lại. K đi bộ xuống khu vực đường nhỏ nhặt 01 khẩu trang y tế màu xám để ở chân cột bê tông. Sau đó K mở khẩu trang thấy bên trong có 01 túi nilon dạng túi zip trong suốt bên trong có ma túy đá. K cầm theo khẩu trang bên trong có túi ma túy đá cất giấu trong người rồi đi ra xe ô tô của T2. Trên đường về K cho gói ma túy vào trong lòng tay phải rồi vất khẩu trang đi.

Khoảng 15 giờ ngày 05/3/2024, khi đến trung tâm y tế huyện N, K, H xuống xe đi bộ thì gặp Nguyễn Văn P. Tại đây K rủ P về phòng của K chơi, P đồng ý. Tại phòng trọ của K, K bảo P lấy 01 bình ga mini, 01 đầu khò, 01 ống thủy tinh trong suốt, 01 vỏ chai nhựa Sting bên trong có nước trắng, 01 ống nhựa với mục đích để P chế tạo dụng cụ sử dụng ma túy. P thổi ống thủy tinh thành coóng lắp ghép dụng cụ để sử dụng ma túy. K lấy 01 ống nhựa màu trắng múc một phần ma túy đá vừa mua được cho vào cóng rồi K, H, P thay nhau sử dụng ma túy bằng cách dùng bật lửa ga hơ nóng đáy cóng để tạo khói trắng rồi hít hết khói qua ống nhựa. Các bị cáo sử dụng ma túy được khoảng 30 phút thì hết ma túy trong cóng, P đi về nhà. Sau đó H nhìn thấy K cắt ống mút màu xanh dài khoảng 03 cm rồi cho ma túy đã mua không sử dụng hết vào để sử dụng sau thì H đi về nhà.

Đến khoảng 20 giờ ngày 05/3/2024, H đến phòng trọ của K hỏi “Đồ đâu”, tức là ma túy đá còn không để K, H cùng sử dụng. K lấy 01 ống hút màu xanh bên trong chứa ma túy (số ma túy K, H mua từ trước không sử dụng hết) cho vào cóng rồi K, H thay nhau sử dụng hết số ma túy trên. Sau đó K mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy vứt đi gồm: 01 cóng thủy tinh, 01 chai nhựa Sting, 01 ống hút bằng nhựa. Khoảng 21 giờ cùng ngày, K, H cùng đi bộ ra quán N1 “Dragon Gaming” ở thị trấn N, huyện N chơi game, được một lúc H đi về nhà. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi K đang cầm 01 đoạn ống hút màu hồng bên trong có chứa ma túy thì bị lực lượng Công an huyện N kiểm tra, phát hiện. Sau đó K vứt đoạn ống hút màu hồng bên trong có chứa ma túy đá xuống gầm bàn máy tính bên trong quán. K thừa nhận đoạn ống hút màu hồng, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng mà cơ quan Công an thu giữ là ma túy do K mua được ở Hải Phòng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Quá trình làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, K khai

nhận toàn bộ nội dung vụ việc. Cơ quan điều tra triệu tập H, P để làm rõ nội dung vụ án

Kết luận giám định số 186/ KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh H: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong đoạn ống hút nhựa màu hồng được niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Văn K, gửi đến giám định khối lượng là 0,213 gam là ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại phiếu trả lời kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu số 06 ngày 06/3/2024 của Trung tâm y tế huyện N, đối với Nguyễn Văn K, Ngô Văn H, xác định tại thời điểm ngày 06/3/2024, K dương tính với chất ma túy AMP, MET và H dương tính với chất ma túy MET.

Cáo trạng số 43/CT-VKSNG ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Ngô Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm a, b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Ninh Giang là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt. VKSND huyện Ninh Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn K. Căn cứ vào điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Ngô Văn H. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn P. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Ngô Văn H và bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng cộng xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 09 năm đến 09 năm 09 tháng tù. Bị cáo Ngô

Văn H 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Nguyễn Văn P 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Sony Xperia SO- 04 màu bạc; tịch thu và tiêu hủy 0,213 gam ma tuý Methamphetamine; 01 bình ga mi ni, 01 đầu khò ga mini, 01 kéo bằng kim loại; 01 thẻ sim số 0981 212 497. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 05/3/2024, tại quán Net “Dragon Gaming”, số nhà D, Trần Hưng Đ1, Khu C, Thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn K có hành vi cất giấu trái phép 0,213 gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra mở rộng còn xác định: Khoảng trưa ngày 05/3/2024, Ngô Văn H (có 02 tiền án, đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”) đưa 2.200.000 đồng cho K, sau đó cùng đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 15 giờ ngày 05/3/2024, tại phòng trọ của K, Nguyễn Văn P chế tạo công cụ sử dụng ma túy rồi K, H, P thay nhau sử dụng hết số ma túy đã cho vào trong coóng thủy tinh thì P, H đi về nhà. Đến khoảng 20 giờ ngày 05/3/2024, H

và K cùng sử dụng số ma túy còn thừa do H, K cùng đi mua từ trước. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Ngô Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm a, b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. VKSND huyện Ninh Giang đã truy tố các bị cáo để xét xử về tội danh nêu trên là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy. Việc tổ chức, tàng trữ để sử dụng ma túy của các bị cáo không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân mà còn là nguyên nhân dẫn đến tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh xã hội tại địa phương, do vậy cần phải xem xét xử lý trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi của các bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Nguyễn Văn K là người khởi xướng, bảo H đưa tiền để trực tiếp đi mua ma tuý, đồng thời là người chuẩn bị công cụ phạm tội, sử dụng chỗ ở của mình và rủ Nguyễn Văn P cùng sử dụng ma túy - giữ vai trò chính trong vụ án; Ngô Văn H cung cấp tiền cho K mua ma túy nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án; Nguyễn Văn P là đồng phạm với vai trò người giúp sức. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo; xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[7] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[8] Xử lý vật chứng:

8.1 Đối với 01 bình ga mi ni màu xanh- đỏ, 01 đầu khò ga mini, 01 kéo bằng kim loại dài 22,5 cm do chị Hồ Thị T giao nộp; 01 thẻ sim số 0981 212 497 thu giữ của Nguyễn Văn K; 0,213 gam ma tuý Methamphetamine đựng trong đoạn ống hút nhựa màu hồng được niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Văn K là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng và vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy. Yêu cầu doanh nghiệp V đang cung cấp dịch vụ thu hồi số thuê bao di động 0981 212 497.

8.2 Đối với 01 điện thoại Sony Xperia SO- 04 màu bạc sử dụng vào việc phạm tội thu giữ của bị cáo K, cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 cóng thủy tinh, 01 ống hút, 01 chai nước sting, 01 bật lửa ga, sau khi sử dụng ma túy K đã vứt đi, điện thoại di động Nokia đen trắng của Ngô Văn H không thu hồi được - HĐXX không xem xét, xử lý.

[9] Đối với 0,213 gam ma tuý, loại Methamphetamine thu giữ của K tại quán Net "Dragon Gaming”, không có căn cứ xác định số ma túy trên là của H mua cùng K, do vậy HĐXX không xem xét, xử lý đối với H về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong vụ án này không xác định được người bán ma túy cho Nguyễn Văn K là ai; chị Phạm Thị Lan A, anh Ngô Văn P1 chuyển tiền cho H, nhưng không biết H sử dụng tiền để mua ma túy; anh Nguyễn Văn T2 lái xe taxi, không biết K, H thuê xe đi mua ma túy; chị Hồ Thị T là bạn gái thuê phòng cùng K và bà Đào Thị L là chủ phòng trọ không biết các bị cáo sử dụng phòng trọ để sử dụng ma túy – HĐXX không xem xét xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn H, Nguyễn Văn P bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.


QUYẾT ĐỊNH

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn K.

Căn cứ vào điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Ngô Văn H.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn P.

2. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Ngô Văn H và bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

3. Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 08 (T3) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 01 năm 03 tháng (Một năm ba tháng) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng cộng xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K2 năm 03 tháng (Chín năm ba tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/3/2024

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn H 08 năm 06 tháng (Tám năm sáu tháng) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/3/2024

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 07 năm 03 tháng (Bẩy năm ba tháng) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/3/2024

4. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Sony Xperia SO-04 màu bạc.

Tịch thu và tiêu hủy 0,213 gam ma tuý Methamphetamine đựng trong đoạn ống hút nhựa màu hồng được niêm phong trong phong bì, mặt trước ghi số 186/ KL-KTHS ; 01 bình ga mi ni màu xanh- đỏ, 01 đầu khò ga mini, 01 kéo bằng kim loại dài 22,5 cm; 01thẻ sim số 0981 212 497.

Yêu cầu doanh nghiệp V đang cung cấp dịch vụ thu hồi số thuê bao di động 0981 212 497.

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/10/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Giang).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn H, Nguyễn Văn P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Ninh Giang;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Công an huyện Ninh Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Hà Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiên, Hạnh Phú tổ chức sử dụng ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger