|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày: 19/9/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thái và ông Vũ Hồng Khanh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Dương Xuân Hổ và ông Trần Đức Chung, Kiểm sát viên.
Ngày 19/9/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST- HS, ngày 28/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 06/9/2024 đối với các bị cáo:
- TRẦN VĂN T3; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1990; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm C, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ và bà Đặng Thị Kim T; Bị cáo có vợ là Đào Thị V (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân. Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 24/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- ĐỖ VĂN L1; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 4 năm 2000; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Trung A; Bị cáo có vợ là Đinh Thị Kiều T1 (đã ly hôn), con: 01 con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân. Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 26/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- NGUYỄN VĂN Đ2; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1976; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ Đ, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Trương Thị T2 (đã chết); Bị cáo có vợ là Dương Thị Y và có 03 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân. Không. Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Công ty TNHH S2; địa chỉ: Tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Người đại diện theo ủy quyền của Công ty: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.
- 2. Bà Dương Thị Y, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ Đ, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, tại K+200 đường Q thuộc địa phận T, thị trấn V, huyện N, tổ công tác thuộc Công an huyện N tiến hành dừng xe, kiểm tra đối với xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI SANTAFE, biển kiểm soát 20A – 666.95 do Nguyễn Văn Đ2 điều khiển theo hướng Bắc Kạn đi Cao Bằng. Qua kiểm tra xác định trên xe chở theo Đỗ Văn L1 và 05 (năm) người đàn ông Trung Quốc không có hộ chiếu và giấy tờ nhập cảnh, lưu trú tại Việt Nam.
Tại Công văn số 1091/PA08 ngày 20/12/2023 của Phòng Q1 Công an tỉnh B xác định 05 (năm) đối tượng người Trung Quốc trên xe ô tô BKS 20A-666.95 do Nguyễn Văn Đ2 điều khiển ngày 16/12/2023 gồm: LEI TIAN YU, sinh năm 1994, trú tại tổ C, Ủy ban dân cư cộng đồng T7, khu N, thành phố N, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; SHEN XUE WEN, sinh năm 1992, trú tại số F, tổ T, thôn V, trấn Giã Kê Bình, huyện T, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; CHEN SHAO YANG, sinh năm 1997, trú tại số A, tổ T, thôn T, xã T, huyện C, thành phố B, tỉnh An Huy, Trung Quốc; WU QIANG, sinh năm 1992, trú tại số C, thôn D, xã T, huyện T, thành phố N, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc; HE XIE JIN, sinh năm 2006, trú tại số E, huyện T, thành phố N, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Những người này đều nhập cảnh trái phép vào tỉnh Cao Bằng, Việt Nam ngày 15/12/2023.
Tại cơ quan Công an, Nguyễn Văn Đ2 khai nhận ngày 16/12/2023 được Trần Văn T3, sinh năm 1990, trú tại Xóm C, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thuê đón 05 (năm) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam tại Quốc lộ A, thuộc huyện S, thành phố Hà Nội để đưa đến huyện T, tỉnh Cao Bằng với số tiền là 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Ngày 20/4/2024, Trần Văn T3 đến Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh B trình diện và khai nhận toàn bộ hành vi tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép vào Việt Nam ngày 16/12/2023.
Qua điều tra, Cơ quan điều tra xác định: Khoảng 09 giờ ngày 16/12/2023, Trần Văn T3 nhận được điện thoại của một người đàn ông tên “T4” (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) thuê T3 đón 05 (năm) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam tại đường Quốc lộ 18, thuộc huyện S, thành phố Hà Nội rồi đưa đến huyện T, tỉnh Cao Bằng với số tiền công là 5.000.000đ (năm triệu đồng) và được T3 đồng ý. Sau đó, T3 gọi điện cho Đỗ Văn L1 (T3 và L1 quen biết nhau từ trước) để bảo L1 cùng đi đón 05 (năm) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam tại Quốc lộ A, thuộc huyện S, thành phố Hà Nội để đưa đến huyện T, tỉnh Cao Bằng thì được L1 đồng ý và bảo T3 tìm thuê xe ô tô để đi đón và chở 05 (năm) người Trung Quốc nêu trên. Sau đó, T3 gọi điện thoại cho Nguyễn Anh T5, sinh năm 1993, trú tại phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên để thuê T5 lái xe chở khách đi huyện T, tỉnh Cao Bằng nhưng do T5 bận công việc nên sẽ tìm người khác lái xe cho T3, đồng thời thỏa thuận tiền công là 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Sau khi thỏa thuận giá tiền công với T3, T5 gọi điện cho Đào Xuân H1, sinh năm 1987, trú tại tổ N, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên để bảo H1 đi đón và chở khách lên huyện T, tỉnh Cao Bằng cho T3 nhưng do H1 cũng bận nên H1 đã liên lạc với Nguyễn Văn Đ2 để bảo Đ2 đón và chở khách cho T3 với số tiền công là 4.000.000đ (bốn triệu đồng) thì được Đ2 đồng ý và bảo H1 gửi số điện thoại của T3 cho Đ2 để liên lạc đón và đưa khách lên tỉnh Cao Bằng. Sau khi có được số điện thoại, Đ2 gọi cho T3 để hỏi địa điểm đón khách thì T3 bảo Đ2 đến đón T3 tại khu vực khu công nghiệp (KCN ) Đ thuộc địa phận phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó, T3 gọi điện thoại cho L1 bảo đến Trạm dừng nghỉ Hải Đ3 để chờ T3 đến đón. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, Đ2 lái xe ô tô biển kiểm soát 20A-666.95 đến khu vực KCN Đ đón T3 và đến Trạm dừng nghỉ Hải Đ3 đón L1 rồi tiếp tục điều khiển xe ô tô đến khu vực đường Q, thuộc địa phận huyện S, thành phố Hà Nội để đón khách. Tại đây, có một xe ô tô nhãn hiệu Toyota loại Innova màu trắng (không rõ biển số) chờ sẵn. Lúc này, L1 xuống xe đi đến chiếc xe ô tô trên đón 05 (năm) người Trung Quốc lên xe ô tô biển kiểm soát 20A-666.95 do Đ2 đang điều khiển. Sau khi 05 (năm) người khách Trung Quốc lên xe thì T3 bảo Đ2 lái xe đi theo hướng Hà Nội - Cao Bằng. Trên đường đi, Đ2 nghe T3 nói với L1 “05 (năm) người khách Trung Quốc này không có giấy tờ gì”, trước đó khi lên xe ô tô Thao có hỏi Đ2 là “xe anh có camera hành trình không? nếu có thì tắt đi” do đó Đ2 nghi ngờ những người Trung Quốc này nhập cảnh trái phép vào Việt Nam nên hỏi T3 “những người này là như thế nào?” thì T3 nói “Anh cứ đi đi, đây là khách của em, có gì có thằng em em đi cùng”, rồi bảo Đ2 điều khiển xe ô tô theo đường Quốc lộ 3 đi Bắc Kạn lên Cao Bằng để tránh trạm kiểm tra của Công an. Khi Đ2 điều khiển xe ô tô đi đến gần KCN Đ thì T3 bảo Đ2 dừng xe cho T3 xuống để tối T3 đi làm tại Vũ trường X thuộc phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nơi T3 làm việc), còn Đ2 tiếp tục điều khiển xe ô tô chở L1 và 05 (năm) người Trung Quốc đi đến huyện T, tỉnh Cao Bằng. Khi đi đến khu vực Đ thuộc huyện N, tỉnh Bắc Kạn, T3 gọi điện thoại hỏi L1 để báo chốt công an và hỏi L1 “có biết đèo Mã P ở đâu không?” thì L1 bảo “không biết”, thì T3 bảo L1 đưa điện thoại cho Đ2 để T3 nói chuyện với Đ2. Quá trình nói chuyện qua điện thoại, T3 hỏi Đ2 “có biết đèo Mã P ở đâu không?”, Đ2 trả lời là “có” thì T3 nói với Đ2 là “có chốt Công an ở đèo M” để Đ2 biết mà tránh, lúc này Đ2 đã biết chắc chắn 05 (năm) người Trung Quốc Đ2 chở trên xe ô tô là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, tuy nhiên do chưa nhận được tiền công nên Đ2 tiếp tục điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20A-666.95 chở L1 và 05 (năm) người Trung Quốc. Sau đó, Đ2 dừng xe ô tô tại một quán nước ở đỉnh Đ để nghỉ ngơi. Khoảng 05 phút sau, Đ2 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở L1 và 05 (năm) người Trung Quốc theo đường Quốc lộ 3 đi đến huyện T, tỉnh Cao Bằng. Khi đi đến địa phận T, thị trấn V, huyện N thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện N dừng xe kiểm tra, phát hiện trên xe ô tô chở 05 (năm) người Trung Quốc không có giấy tờ nhập cảnh vào Việt Nam theo quy định. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc rồi đưa Đ2, L1 và 05 (năm) người Trung Quốc cùng xe ô tô biển kiểm soát 20A-666.95 về trụ sở Công an huyện N để làm việc. Đến khoảng 20 giờ ngày 16/12/2023, người đàn ông tên “T5” gọi điện thoại cho T3 nói là xe ô tô chở 05 (năm) người Trung Quốc bị Công an bắt tại tỉnh Bắc Kạn và bảo T3 trốn đi. Sau khi nhận được thông tin, T3 đã xin nghỉ việc tại Vũ trường X và đến ở tại phòng trọ của chị Lò Thị S, sinh năm 1983, trú tại xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đang thuê trọ tại nhà ông Hà Văn V1, sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Đến ngày 20/4/2024, T3 đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B để trình diện và khai báo toàn bộ hành vi của bản thân.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1, Nguyễn Văn Đ2 khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như đã nêu trên. Ngoài ra, T3 và L1 còn thừa nhận: Trước đó vào ngày 14/12/2023, T3 và L1 cũng được người đàn ông tên “T5” nêu trên thuê đón 01 (một) người Trung Quốc tại huyện T, tỉnh Cao Bằng đưa đến khu vực KCN Đ thuộc thành phố P, tỉnh Thái Nguyên với số tiền công là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng).
Tại bản cáo trạng số: 42/CT-VKS-P1 ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố các bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1, Nguyễn Văn Đ2 về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.
Điều 348 Bộ luật Hình sự có nội dung:
- “1. Người nào vì vụ lợi mà tổ chức,... cho người khác ...nhập cảnh... trái phép, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- c) Đối với từ 05 người đến 10 người;
- 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ..., cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm".
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1, Nguyễn Văn Đ2 phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T3 từ 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 06 (S1) năm tù. Thời hạn tù được trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/4/2024.
Áp dụng điểm c khoản 2, Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn L1 từ 05 (Năm) năm đến 05 (Năm) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù được trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 26/12/2023.
Áp dụng điểm c khoản 2, Điều 348; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 54, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ2 từ 30 (Ba mươi) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 60 tháng. Giao bị cáo cho UBND phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung mỗi bị cáo 10 triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 16/12/2023 các bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1 được một người đàn ông tên T5 (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) thuê chở 05 (năm) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam từ huyện S, thành phố Hà Nội đến huyện T, tỉnh Cao Bằng với tiền công là 5.000.000₫ (năm triệu đồng). Sau đó, bị cáo T3 gọi điện thoại thuê bị cáo Đ2 đón T3 và L1 rồi cùng đi đón khách để đưa đến huyện T, tỉnh Cao Bằng với tiền công là 4.000.000đ (bốn triệu đồng) thì được bị cáo Đ2 đồng ý. Sau đó, bị cáo Đ2 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20A-666.95 đón bị cáo T3 và bị cáo L1 rồi cùng đi đến khu vực đường Q, thuộc huyện S, thành phố Hà Nội đón được 05 (năm) người khách là người Trung Quốc. gồm: LEI TIAN YU, sinh năm 1994, trú tại tổ C, Ủy ban dân cư cộng đồng T7, khu N, thành phố N, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; SHEN XUE WEN, sinh năm 1992, trú tại số F, tổ T, thôn V, trấn Giã Kê Bình, huyện T, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; CHEN SHAO YANG, sinh năm 1997, trú tại số A, tổ T, thôn T, xã T, huyện C, thành phố B, tỉnh An Huy, Trung Quốc; WU QIANG, sinh năm 1992, trú tại số C, thôn D, xã T, huyện T, thành phố N, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc; HE XIE JIN, sinh năm 2006, trú tại số E, huyện T, thành phố N, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Mặc dù biết những người khách này là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam không có hộ chiếu và giấy tờ nhập cảnh, lưu trú theo quy định, nhưng vì lợi nhuận nên bị cáo Đ2 vẫn tiếp tục điều khiển xe ô tô theo đường Quốc lộ 3 lên Bắc Kạn rồi đưa đến huyện T, tỉnh Cao Bằng. Khi đi đến K+200 đường Q thuộc địa phận T, thị trấn V, huyện N thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện N phát hiện, lập biên bản.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1, Nguyễn Văn Đ2 đều thừa nhận biết rõ khách là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam không có hộ chiếu và giấy tờ nhập cảnh theo quy định, nhưng vì lợi nhuận nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Việc Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước về xuất nhập cảnh, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1, Nguyễn Văn Đ2 đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Trần Văn T3 có ông nội là ông Trần Văn Đ4; ông ngoại là ông Đặng Văn H2 và bà ngoại là bà Phạm Thị H3 là người có công với cách mạng đều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; Bị cáo Nguyễn Văn Đ2 có anh ruột là ông Nguyễn Văn T6 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba. Do vậy các bị cáo Trần Văn T3, Nguyễn Văn Đ2 đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ2 tại giai đoạn chuẩn bị xét xử có cung cấp 01 (một) Đơn xin xác nhận thành tích có xác nhận của trưởng công an phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn về việc tố giác tội phạm; kèm theo là 01 (một) Bản án số 131/2023/HS-ST, ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn; 01 (một) Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù của Trại giam N; 01 (một) Biên bản giao người, tang vật, phương tiện ngày 06/6/2023 nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án" quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Xét toàn diện vụ án thấy rằng, đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1 giữ vai trò liên lạc, hướng dẫn đón, chở khách; bị cáo Nguyễn Văn Đ2 là người thực hành, trực tiếp đón và chở người nhập cảnh trái phép. Do đó, bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1 phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Nguyễn Văn Đ2.
Xét tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Trần Văn T3 và Đỗ Văn L1 không đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử dưới khung hình phạt. Đối với bị cáo Đ2 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và 01 tình giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho nên đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử bị cáo dưới khung hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đ2 có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm, không phải chịu tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, đủ khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ cho bị cáo hưởng án treo theo quy định. Vì vậy xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo là đúng pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội vì mục đích thu lợi bất chính,qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định các bị cáo không thuộc diện gia đình chính sách, không sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 20A – 666.95 nhãn hiệu HUYNDAI SANTAFE; Số loại: SANTAFE; Màu sơn: đen; Số máy: D4EB8553665, Số khung: KMHSH81WP8U371814, dung tích xi lanh 2188cm³, năm sản xuất: 2008 xe cũ, đã qua sử dụng, được dán niêm phong của bị cáo Nguyễn Văn Đ2. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, chiếc xe là tài sản của Công ty TNHH S2 đã mua lại chiếc xe này của bị cáo Nguyễn Văn Đ2 với số tiền 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng), Công ty TNHH S2 còn nợ lại bị cáo Đ2 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Xét thấy đây là tài sản của Công ty TNHH S2, Công ty TNHH S2 không biết về hành vi phạm tội của bị cáo khi cho bị cáo mượn xe, vì vậy cần trả lại chiếc xe trên cho Công ty TNHH S2; đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 (một) giấy chứng nhận đăng kiểm; 01 (một) biên lai thu tiền thuế, phí, lệ phí (đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “P2”) kèm theo xe cần trả cho Công ty TNHH S2.
- + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Đ4”, trên phong bì có ghi “01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn Đ2 ngày 16/12/2023 sau khi kiểm tra và phong bì niêm phong cũ ký hiệu Đ2”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Luân” bên trong chứa: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, có ốp bằng nhựa màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, có vỏ màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng, không khởi động được tạm giữ của Trần Văn T3. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, các bị cáo sử dụng để liên lạc trao đổi việc đón, chở người nhập cảnh trái phép, do đó cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.
- + 01 (một) phong bì ký hiệu “ĐTN” bên trong chứa: 01 (một) thẻ nhớ loại 32G một mặt màu xám đỏ, một mặt màu đen có gắn vi mạch màu vàng đồng không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
- + Số tiền 776.000₫ (bảy trăm, bảy mươi sáu nghìn đồng) cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Nguyễn Văn Đ2.
- + Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L1, trên phong bì có ghi “01 (một) căn cước công dân số [...] tạm giữ của Đỗ Văn L1 ngày 16/12/2023” xét thấy vật chứng này không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo L1.
[8] Trong vụ án có nội dung:
Quá trình điều tra, các bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1 còn khai nhận: Ngoài lần tổ chức cho 05 (năm) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam nêu trên, thì trước đó ngày 14/12/2023, T3 và L1 cũng được người đàn ông tên “T5” này thuê đón 01 (một) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đi từ huyện T, tỉnh Cao Bằng đến thành phố P, tỉnh Thái Nguyên và nhận được số tiền công là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng). Tuy nhiên, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được danh tính người đàn ông tên “T5” và người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam ngày 14/12/2023 mà bị cáo T3, L1 khai đã đón tại huyện T, tỉnh Cao Bằng rồi đưa về thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý đối với người đàn ông tên “T5” và bị cáo T3, L1 đối với lần tổ chức này.
Đối với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) là tiền công Trần Văn T3 thỏa thuận với người đàn ông tên “T5” về việc đón và đưa 05 (năm) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đi từ khu vực đường Q, thuộc huyện S, thành phố Hà Nội đến huyện T, tỉnh Cao Bằng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Đối với LEI TIAN YU; SHEN XUE WEN; CHEN SHAO YANG; WU QIANG; HE XIE JIN. Qua điều tra xác định: 05 (năm) người Trung Quốc nêu trên nhập cảnh trái phép từ tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc vào tỉnh Cao Bằng, Việt Nam, Cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành xác minh, phối hợp để trao trả cho phía Trung Quốc theo quy định.
Đối với Nguyễn Anh T5 và Đào Xuân H1, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định T5 và H1 chỉ là người tìm thuê xe ô tô cho bị cáo Trần Văn T3 và không biết việc T3 tìm xe ô tô để đón và chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1, Nguyễn Văn Đ2 phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T3 05 (Năm) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/4/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51;Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn L1 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/12/2023.
- Áp dụng khoản điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ2 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Phạt tiền các bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1, Nguyễn Văn Đ2, mỗi bị cáo 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- – Trả cho Công ty TNHH S2: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu biển kiểm soát 20A – 666.95 nhãn hiệu HUYNDAI SANTAFE; Số loại: SANTAFE; Màu sơn: đen; Số máy: D4EB8553665, Số khung: KMHSH81WP8U371814, dung tích xi lanh 2188cm³, năm sản xuất: 2008; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 (một) giấy chứng nhận đăng kiểm; 01 (một) biên lai thu tiền thuế, phí, lệ phí (đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “P2”) kèm theo xe. 01 (một) phong bì ký hiệu “ĐTN” bên trong chứa: 01 (một) thẻ nhớ loại 32G một mặt màu xám đỏ, một mặt màu đen có gắn vi mạch màu vàng đồng.
- - Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Đ4”, trên phong bì có ghi “01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, tạm giữ của Nguyễn Văn Đ2 ngày 16/12/2023 sau khi kiểm tra và phong bì niêm phong cũ ký hiệu Đ2”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Luân” bên trong chứa: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, có ốp bằng nhựa màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, có vỏ màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng, không khởi động được tạm giữ của Trần Văn T3.
- - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Nguyễn Văn Đ2: Số tiền 776.000đ (bảy trăm, bảy mươi sáu nghìn đồng).
- - Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn L1: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L1, trên phong bì có ghi “01 (một) căn cước công dân số [...] tạm giữ của Đỗ Văn L1 ngày 16/12/2023”.
(Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).
- Về án phí:Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo và các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Buộc các bị cáo Trần Văn T3, Đỗ Văn L1, Nguyễn Văn Đ2 mỗi người phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đình Hưng |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T3 và đồng phạm phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
